Con lai và con người Việt sinh ra ở nước ngoài thường đến lúc tự hỏi "mình là người gì"; câu trả lời giúp con vững vàng nhất là con có thể là cả hai, người Việt và người của nước nơi con lớn lên, không phải chọn một bỏ một. Các nghiên cứu tâm lý về người song văn hoá cho thấy những người giữ được cả hai bản sắc thường thích nghi tốt hơn những người buộc phải chọn, và gia đình là nơi đầu tiên cho con quyền được là cả hai.
Bài này đi qua những lúc câu hỏi bản sắc xuất hiện theo từng tuổi, cách trò chuyện với con, khi con bị trêu vì ngoại hình, tên hay món ăn, vai của người cha hoặc mẹ không phải người Việt, và chuyện con cảm thấy mình "không đủ Việt" khi về quê.
Câu hỏi bản sắc xuất hiện theo tuổi
Mỗi tuổi con hỏi một kiểu, và câu trả lời nên vừa với tuổi. Bảng dưới đây gợi ý những câu hay gặp và hướng đáp, không phải kịch bản bắt buộc.
| Tuổi | Con hay hỏi hoặc nói | Hướng đáp |
|---|---|---|
| 3–5 | "Sao tóc mẹ đen mà tóc con nâu?", "Sao bà nói tiếng khác?" | Giải thích đơn giản: con giống cả ba lẫn mẹ, nhà mình có hai thứ tiếng, con được học cả hai |
| 6–9 | "Bạn hỏi con là người nước nào", "Con là người Việt hay người Úc?" | Con là cả hai; con tự gọi mình là "người Úc gốc Việt" hoặc theo cách con thấy đúng |
| 10–13 | "Con không muốn mang cơm Việt đến trường", "Bạn cười tên con" | Lắng nghe trước, hỏi chuyện gì đã xảy ra, cùng con nghĩ cách đáp |
| 14 trở lên | "Ở đây con không đủ là người bản xứ, về Việt Nam con không đủ là người Việt" | Công nhận cảm giác ấy là thật, kể rằng rất nhiều người giống con, bản sắc là thứ con tự xây |
Không cần chờ con hỏi mới nói. Những câu chuyện về gia đình hai bên, ảnh quê nội quê ngoại, món ăn của hai nền văn hoá trong bữa cơm hằng ngày đã là câu trả lời trước khi con đặt câu hỏi.
Bản sắc kép: cộng thêm, không chia đôi
Nhiều ba mẹ vô tình nói với con theo kiểu chia đôi: "con là nửa Việt nửa Đức", "con mang một nửa dòng máu Việt". Cách nói ấy tưởng chính xác nhưng dễ khiến con thấy mình thiếu, mỗi bên chỉ được một nửa. Nhiều gia đình chọn cách nói khác: "con là người Việt và người Đức", "con có hai quê". Con không bị chia, mà được cộng thêm.
Các nhà tâm lý học nghiên cứu người nhập cư, như John Berry với mô hình thích nghi văn hoá, phân biệt bốn hướng: hoà nhập giữ cả hai, đồng hoá bỏ văn hoá gốc, tách biệt chỉ giữ văn hoá gốc, và mất cả hai. Một phân tích tổng hợp của Angela-MinhTu Nguyen và Verónica Benet-Martínez công bố năm 2013 cho thấy người giữ được cả hai văn hoá thường có mức thích nghi tâm lý và xã hội tốt hơn.
Ở nước ngoài, con thường tự tìm ra cách gọi mình: người Mỹ gốc Việt, người Canada gốc Việt, người Pháp gốc Việt, hoặc đơn giản là "mình là người Việt sống ở đây". Ba mẹ nên để con chọn chữ, và tôn trọng khi cách gọi ấy thay đổi theo tuổi. Một đứa trẻ mười tuổi nói "con là người Nhật" không có nghĩa là con chối bỏ mẹ, mà chỉ đang nói về nơi con thấy mình thuộc về lúc ấy.
Con của gia đình có một người không phải người Việt
Tiếng Việt thường chỉ đến từ một người. Khi mẹ là người Việt, ba là người Hàn, người Đài Loan, người Pháp, tiếng Việt của con phụ thuộc gần hết vào mẹ. Mẹ cần kiên trì nói tiếng Việt với con ngay cả khi cả nhà dùng tiếng của ba, và tìm thêm nguồn tiếng Việt như ông bà ngoại, bạn bè người Việt, lớp cuối tuần.
Người không phải người Việt có vai rất lớn. Ba người nước ngoài học vài câu tiếng Việt, ăn món Việt, cùng gói bánh chưng, chào ông bà ngoại bằng tiếng Việt qua cuộc gọi: những việc nhỏ ấy nói với con rằng văn hoá Việt được tôn trọng trong nhà. Ngược lại, một câu đùa chê món ăn hay tiếng Việt có thể làm con ngại cả đời.
Gia đình bên kia cũng cần được nói chuyện. Ông bà nội người nước sở tại đôi khi lo cháu học hai tiếng sẽ chậm, hoặc không hiểu vì sao phải giữ tiếng Việt. Ba nên là người giải thích với gia đình mình, để mẹ không phải một mình bảo vệ lựa chọn của cả nhà.
Ở một số nước có hỗ trợ riêng. Ở Hàn Quốc, các trung tâm hỗ trợ gia đình đa văn hoá có chương trình khuyến khích trẻ học tiếng mẹ, trong đó tiếng Việt là một trong những tiếng phổ biến nhất. Ở Đài Loan, trường tiểu học có giờ học tiếng của người nhập cư mới, có tiếng Việt. Mẹ nên hỏi ở trường và trung tâm địa phương.
Con có thể nghiêng về một bên theo từng giai đoạn. Có năm con gần văn hoá Việt hơn, có năm gần văn hoá bên kia hơn, tuỳ bạn bè, trường học, chuyến đi. Điều đó bình thường, không phải dấu hiệu thất bại của ai.
Khi con bị trêu vì ngoại hình, tên hay món ăn
Trẻ người gốc Việt ở nước ngoài, nhất là con lai có ngoại hình khác cả hai bên, hay gặp những câu hỏi và câu trêu: "mày là người nước nào", "tên mày đọc kỳ quá", "cơm mày mang hôi quá". Phần lớn xuất phát từ sự tò mò vụng về của trẻ con, một phần là trêu chọc thật, và một số ít là phân biệt đối xử cần nhà trường xử lý.
Khi con kể, việc đầu tiên là nghe hết, không vội phán xét con hay bạn. Hỏi chuyện xảy ra thế nào, con cảm thấy gì, con đã đáp ra sao. Sau đó cùng con chuẩn bị vài câu trả lời ngắn, tự tin: "mình là người Úc gốc Việt", "tên mình tiếng Việt nghĩa là mùa xuân", "đây là cơm chiên, ngon lắm, mai mình mang cho bạn thử". Trẻ có sẵn câu trả lời thường bớt lúng túng, và lời trêu mất tác dụng.
Nếu chuyện kéo dài, có tính chất bắt nạt hay xúc phạm nguồn gốc, ba mẹ nên trao đổi với giáo viên và nhà trường. Phần lớn trường học ở các nước có quy định chống bắt nạt và phân biệt đối xử; ba mẹ ghi lại sự việc, ngày giờ, và yêu cầu trường có biện pháp. Con cần thấy ba mẹ đứng về phía mình, bình tĩnh mà dứt khoát.
Cảm giác "không đủ Việt" khi về quê
Một trải nghiệm rất phổ biến: con lớn lên ở nước ngoài, được dạy mình là người Việt, đến khi về quê lại bị gọi là "Việt kiều", "Tây", bị cười vì nói ngọng, không biết ăn mắm, không quen ngồi xổm. Con thấy mình không thuộc về đâu: ở nước ngoài thì là người châu Á, về Việt Nam thì là người nước ngoài.
Ba mẹ nên nói trước với con điều này trước chuyến về, để con không bất ngờ. Giải thích rằng họ hàng gọi vậy thường vì thấy lạ và thương, không phải để loại con ra. Nói trước với họ hàng rằng con đang tập tiếng Việt, cần được khen hơn được trêu. Khi con kể lại cảm giác lạc lõng, đừng gạt đi bằng "có gì đâu"; công nhận rằng cảm giác ấy là thật và rất nhiều người cùng hoàn cảnh đã trải qua.
Về lâu dài, nhiều người lớn lên giữa hai văn hoá mô tả rằng họ dần chấp nhận một bản sắc thứ ba: không hoàn toàn giống người trong nước, không hoàn toàn giống người bản xứ, mà là người Việt ở nước ngoài, với những nét riêng của cộng đồng mình. Đó không phải là thiếu, mà là một cách làm người Việt khác, có giá trị riêng.
Ông bà hai bên và câu chuyện hai quê
Với con của gia đình đa văn hoá, ông bà hai bên thường là hai thế giới rất khác: một bên ở làng quê Việt Nam, nói tiếng Việt, ăn cơm với nước mắm; một bên ở một thị trấn châu Âu hay một thành phố Hàn Quốc, nói thứ tiếng khác, ăn món khác. Con có thể thân với bên gần hơn và thấy bên kia xa lạ. Ba mẹ có thể giúp cả hai bên trở nên gần gũi bằng những việc cụ thể.
Kể cho con nghe chuyện của cả hai bên ông bà: ông ngoại từng đi thuyền đánh cá, ông nội từng làm thợ mộc; bà ngoại nấu canh chua ngon nhất xóm, bà nội làm bánh táo mỗi mùa thu. Treo ảnh hai bên cạnh nhau trong nhà. Khi có dịp, cho hai bên ông bà gặp nhau, kể cả qua một cuộc gọi chung có ba mẹ phiên dịch; con thấy hai nửa gia đình mình quý nhau thì yên tâm rằng mình không phải chọn bên.
Nếu ông bà một bên chưa chấp nhận cuộc hôn nhân hay có định kiến với văn hoá bên kia, ba mẹ nên giữ con khỏi những cuộc tranh cãi người lớn, và nói với con những điều tốt đẹp về cả hai bên. Trẻ không nên phải mang gánh nặng của những mâu thuẫn mà con không gây ra.
Những việc nhỏ giúp con tự tin với cả hai văn hoá
Bản sắc không hình thành qua những cuộc nói chuyện nghiêm trọng, mà qua hàng nghìn việc nhỏ lặp lại trong nhà. Dưới đây là vài việc nhiều gia đình đa văn hoá làm và thấy có ích.
- Giữ trong nhà những vật của cả hai văn hoá: tranh, sách, đồ dùng, ảnh quê nội quê ngoại.
- Đón cả lễ của hai bên: Tết Nguyên đán và lễ Giáng sinh, Trung thu và lễ Tạ ơn, tuỳ nước.
- Nấu món của cả hai bên trong bữa cơm hằng ngày, không chỉ dịp lễ.
- Kể chuyện tuổi thơ của cả ba lẫn mẹ, để con biết mình đến từ hai câu chuyện.
- Đặt cho con tên có nghĩa ở cả hai thứ tiếng, hoặc kể cho con nghe ý nghĩa tên tiếng Việt của con.
- Cho con gặp những người lớn gốc Việt thành công, vui vẻ với bản sắc kép của mình, ở cộng đồng hay trong sách báo.
- Đưa con về thăm cả hai quê khi có điều kiện, để hai nửa gia đình đều là người thật với con.
Khi con thấy ba mẹ thoải mái với sự khác biệt của gia đình mình, con cũng học được cách thoải mái. Trẻ đọc rất rõ thái độ của người lớn: một gia đình coi văn hoá Việt là niềm vui sẽ nuôi một đứa trẻ coi gốc Việt là điều tự hào.
Câu hỏi thường gặp
Con lai có nên học tiếng Việt không khi cả nhà nói tiếng của ba?
Nên, nếu mẹ là người Việt và muốn con giữ kết nối với họ ngoại. Tiếng Việt giúp con nói chuyện với ông bà, hiểu một nửa câu chuyện gia đình mình. Mẹ là nguồn chính, nên kiên trì nói tiếng Việt với con và tìm thêm người nói tiếng Việt quanh con.
Con hỏi "con là người nước nào" thì trả lời thế nào cho đúng?
Không có một câu trả lời đúng cho mọi nhà. Nhiều ba mẹ nói con là người của cả hai nước, hoặc là người của nước đang sống có gốc Việt. Quan trọng là con hiểu mình không phải chọn một bỏ một, và con có quyền tự gọi mình theo cách con thấy đúng khi lớn lên.
Ba người nước ngoài không biết tiếng Việt, có cản trở con học tiếng Việt không?
Không cản trở nếu ba ủng hộ. Ba không cần biết tiếng Việt, chỉ cần tôn trọng việc mẹ nói tiếng Việt với con, không đòi cả nhà chỉ dùng một thứ tiếng, và tham gia các dịp lễ Việt. Thái độ của ba có ảnh hưởng lớn đến việc con coi tiếng Việt quan trọng đến đâu.
Con bị bạn trêu vì có mẹ người Việt thì ba mẹ nên làm gì?
Nghe con kể hết, công nhận cảm xúc của con, cùng con chuẩn bị câu trả lời tự tin. Nếu lời trêu lặp lại hay mang tính xúc phạm, liên hệ giáo viên và nhà trường, ghi lại sự việc. Con cần biết ba mẹ đứng về phía mình và gốc Việt là điều đáng tự hào.
Con lớn rồi nói không thấy mình là người Việt, ba mẹ có nên buồn không?
Cảm giác buồn là tự nhiên, nhưng nên hiểu rằng bản sắc của con thay đổi theo tuổi và trải nghiệm. Đừng tranh cãi, hãy giữ những nếp chung, giữ quan hệ với họ hàng bên Việt. Nhiều người khi trưởng thành tự tìm lại gốc Việt, nhất là khi có con.
Có nên cho con tên tiếng Việt khi sống ở nước ngoài?
Nhiều gia đình đặt tên chính theo tiếng nước sở tại và thêm tên tiếng Việt làm tên đệm hoặc tên gọi ở nhà, hoặc chọn tên đọc được ở cả hai thứ tiếng. Cách nào cũng được, miễn là con biết ý nghĩa tên tiếng Việt của mình. Phần ghi tên trên giấy tờ hai nước nên tìm hiểu kỹ trước khi đăng ký khai sinh.