Người Việt ở nước ngoài sống đông nhất ở Mỹ, rồi tới các cộng đồng lớn ở Nhật, Hàn, Đài Loan, Úc, Canada, Pháp, Đức, Séc và các nước láng giềng như Thái Lan, Lào, Campuchia. Theo các con số Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài công bố những năm 2021–2024, có khoảng 5–6 triệu người Việt và người gốc Việt sống ở hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Mỗi nơi có một "dáng" cộng đồng riêng. Ở Mỹ, Úc, Canada, Pháp là các gia đình định cư đã sang thế hệ thứ hai, thứ ba. Ở Nhật, Hàn, Đài Loan phần đông là người lao động, du học sinh, cô dâu Việt mới sang trong khoảng hai mươi năm gần đây. Ở Đức, Séc, Ba Lan, cộng đồng gắn với các trung tâm bán sỉ và cửa hàng tạp hoá. Bài này đi qua từng vùng, nghề hay gặp, nơi người Việt tụ họp, cách đọc số liệu cho đúng và cách người mới sang tìm tới cộng đồng.
Con số chung và vì sao các nguồn hay vênh nhau
Con số "khoảng 5–6 triệu" là ước tính tổng hợp, không phải kết quả của một cuộc đếm. Mỗi nước đếm theo một cách: có nước hỏi gốc dân tộc, có nước chỉ ghi nơi sinh, có nước chỉ thống kê người đang mang quốc tịch nước ngoài cư trú hợp pháp. Vì vậy cùng một cộng đồng có thể có hai, ba con số khác nhau tuỳ nguồn.
Ví dụ, điều tra dân số Mỹ và Úc cho phép người dân khai gốc Việt kể cả khi sinh ra ở Mỹ, ở Úc, nên con số bao gồm cả thế hệ thứ hai. Thống kê lưu trú của Nhật, Hàn, Đài Loan chỉ đếm người đang mang quốc tịch Việt Nam; ai đã nhập quốc tịch nước đó thì không còn trong bảng. Pháp không thu thập dữ liệu theo nguồn gốc dân tộc, nên mọi con số về người gốc Việt ở Pháp đều là ước tính của giới nghiên cứu.
Khi đọc một con số, nên hỏi ba câu: nguồn là cơ quan nào, năm nào, và họ đếm "người sinh ở Việt Nam", "người khai gốc Việt" hay "người mang quốc tịch Việt Nam". Hai bài báo cùng nói về người Việt ở một nước mà chênh nhau gấp rưỡi thường là vì đếm khác đối tượng, không phải vì ai sai.
Năm vùng đông người Việt và dáng cộng đồng ở từng vùng
Bảng dưới gom các nước theo vùng, ghi nhóm người Việt chiếm đa số và nghề hay gặp. Đây là nét chung để định hướng, mỗi gia đình cụ thể có thể rất khác.
| Vùng | Nước tiêu biểu | Nhóm đông nhất | Nghề hay gặp |
|---|---|---|---|
| Bắc Mỹ | Mỹ, Canada | Gia đình định cư nhiều thế hệ | Tiệm nail, nhà hàng, kỹ thuật, y tế, kinh doanh nhỏ |
| Châu Đại Dương | Úc, New Zealand | Gia đình định cư, du học sinh | Kinh doanh nhỏ, y tế, dược, kỹ thuật, may mặc thời trước |
| Tây Âu | Pháp, Anh, Bỉ, Hà Lan | Gia đình định cư, du học sinh | Nhà hàng, tiệm nail, văn phòng, nghiên cứu |
| Trung Đông Âu | Đức, Séc, Ba Lan, Slovakia | Gia đình buôn bán, thế hệ hai lớn lên | Bán sỉ, tạp hoá, quán ăn, tiệm nail |
| Đông Á | Nhật, Hàn, Đài Loan | Lao động, du học sinh, cô dâu Việt | Nhà máy, xây dựng, chăm sóc, nông nghiệp, đánh cá |
| Láng giềng | Thái Lan, Lào, Campuchia | Gia đình sống lâu đời, người mới sang buôn bán | Buôn bán, ăn uống, sửa chữa, nghề cá |
Điểm đáng chú ý là ranh giới giữa các nhóm đang mờ dần. Ở Nhật đã có nhiều gia đình người Việt sinh con, mua nhà, ở lâu dài; ở Mỹ và Úc lại có thêm dòng du học sinh và người sang theo diện tay nghề. Vì vậy một khu phố Việt hôm nay thường có cả người đã sống ở đó bốn mươi năm lẫn người mới sang chưa đầy một năm.
Cộng đồng tụ lại quanh những chỗ nào
Chợ và dãy cửa hàng Việt. Hầu như cộng đồng nào cũng bắt đầu từ một tiệm tạp hoá bán nước mắm, bánh phở, rau thơm. Dần dần quanh đó mọc lên quán phở, tiệm bánh mì, tiệm vàng, văn phòng dịch thuật, tiệm cắt tóc. Ở Mỹ, Úc, Canada đó là cả một khu phố; ở Nhật, Hàn có khi chỉ là vài cửa hàng gần nhà ga.
Chùa và nhà thờ. Với nhiều gia đình, chùa và nhà thờ của người Việt là nơi gặp nhau mỗi cuối tuần, nơi tổ chức Tết, Rằm tháng Giêng, Vu Lan, Giáng sinh, nơi có lớp tiếng Việt cho trẻ và bếp ăn chung. Người không theo đạo nào vẫn thường tới đó dịp lễ vì đó là nơi đông người Việt nhất.
Hội đồng hương, hội sinh viên, hội phụ nữ. Hội đồng hương gom người cùng tỉnh, hội sinh viên gom du học sinh theo trường hay thành phố, hội phụ nữ hay hội gia đình đa văn hoá gom các cô dâu Việt. Các hội này lo đón người mới, thăm người ốm, quyên góp khi có người mất, tổ chức Trung thu cho trẻ.
Lớp tiếng Việt cuối tuần. Lớp do chùa, nhà thờ, hội phụ huynh hoặc trường công nước sở tại mở. Ngoài dạy chữ, đây là nơi cha mẹ quen nhau, trao đổi chuyện trường lớp, việc làm, giấy tờ.
Nhóm mạng xã hội theo thành phố. Người mới sang ngày nay thường tìm cộng đồng qua các nhóm "người Việt ở + tên thành phố" trước khi tới chợ hay chùa. Các nhóm này hữu ích để hỏi thuê nhà, mua đồ cũ, nhưng cũng là nơi kẻ gian đăng tin việc làm, cho vay, đổi tiền. Mọi giao dịch nên gặp mặt và kiểm tra kỹ.
Nghề nghiệp: vì sao người Việt mỗi nước lại "giỏi" một nghề
Người Việt ở Mỹ gắn với tiệm nail, ở Đức và Séc gắn với cửa hàng tạp hoá, ở Đài Loan gắn với nhà máy và nghề chăm sóc người già. Đó không phải vì người Việt chỉ hợp một nghề, mà vì nghề đầu tiên của lớp người đi trước mở đường cho người sau: người quen dạy nghề, cho thuê ghế, giới thiệu chỗ làm, cho vay vốn mở tiệm.
Cơ chế này giúp người mới sang có việc nhanh, nói ít tiếng nước sở tại vẫn sống được. Mặt trái là nhiều người kẹt lại trong một nghề vất vả, thu nhập phụ thuộc vào khách, ít bảo hiểm và ít cơ hội học thêm. Ở thế hệ thứ hai, bức tranh khác hẳn: con cái các gia đình làm nail, bán tạp hoá thường đi học đại học rồi làm bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, kế toán, luật sư, công chức nước sở tại.
Với người lao động ở Nhật, Hàn, Đài Loan, nghề nghiệp gắn với chương trình đưa người sang: xây dựng, cơ khí, chế biến thực phẩm, nông nghiệp, đánh cá, chăm sóc. Người làm hết hợp đồng có thể chuyển sang diện tay nghề cao hơn, có khi được ở lâu dài, theo điều kiện của từng nước.
Báo, đài và các kênh tiếng Việt ở nước ngoài
Ở những nơi có cộng đồng đông và lâu đời như California, Houston, Sydney, Melbourne, Toronto, Paris, có cả báo in, đài phát thanh, kênh truyền hình nói tiếng Việt. Phần lớn là doanh nghiệp tư nhân sống nhờ quảng cáo của tiệm ăn, văn phòng bảo hiểm, nha sĩ, luật sư trong cộng đồng. Ngoài ra, nhiều đài công cộng nước sở tại có chương trình tiếng Việt, ví dụ đài phát thanh đa văn hoá của Úc có ban tiếng Việt từ lâu.
Báo giấy phát miễn phí ở chợ Việt vẫn là nơi đăng tin cần người, cho thuê phòng, rao bán tiệm. Với người mới sang, đó là nguồn thông tin thực tế về việc làm trong cộng đồng. Tuy vậy, những trang quảng cáo dịch vụ giấy tờ, cho vay, "bao đậu" cần đọc với con mắt tỉnh táo.
Các trang thông tin của cơ quan đại diện Việt Nam (đại sứ quán, tổng lãnh sự quán) cũng đăng thông báo bằng tiếng Việt về hộ chiếu, đăng ký công dân, lịch làm việc lưu động ở các thành phố xa và đường dây nóng bảo hộ công dân. Người ở xa nên lưu sẵn trang của cơ quan đại diện phụ trách vùng mình sống.
Người mới sang tìm tới cộng đồng người Việt thế nào
Tuần đầu ở một nước lạ thường bối rối nhất. Các bước dưới đây giúp nối với cộng đồng mà không rơi vào tay người xấu.
- Hỏi trường, công ty hoặc người bảo lãnh xem trong thành phố có hội sinh viên Việt Nam, hội người Việt hay nhóm đồng hương nào đang hoạt động. Du học sinh thường được hội sinh viên đón từ sân bay.
- Tìm khu chợ hoặc tiệm tạp hoá Việt gần nhất. Chủ tiệm thường biết chùa, nhà thờ, lớp tiếng Việt, tiệm ăn quen của người Việt trong vùng.
- Tới chùa hoặc nhà thờ người Việt vào dịp sinh hoạt cuối tuần, kể cả khi không theo đạo. Đây là nơi dễ gặp người lớn tuổi sống lâu năm, sẵn lòng chỉ chỗ khám bệnh, chỗ học tiếng.
- Vào nhóm mạng xã hội người Việt ở thành phố, đọc nội quy, đọc lại các bài cũ trước khi hỏi. Không gửi ảnh giấy tờ, không chuyển tiền đặt cọc cho người chưa gặp mặt.
- Đăng ký công dân với cơ quan đại diện Việt Nam phụ trách vùng mình ở, theo hướng dẫn trên trang của cơ quan đó, để khi mất giấy tờ hay gặp nạn có nơi xác minh nhanh.
- Tìm hiểu dịch vụ công của nước sở tại dành cho người mới đến: lớp ngôn ngữ, trung tâm hỗ trợ người nước ngoài, phòng tư vấn của chính quyền địa phương. Đây thường là nguồn đúng và miễn phí hơn mọi lời mách trong nhóm.
Một nguyên tắc đơn giản: cộng đồng giúp được rất nhiều việc, nhưng chuyện giấy tờ cư trú, hợp đồng lao động, tiền bạc thì nên kiểm lại với cơ quan chính thức của nước sở tại và cơ quan đại diện Việt Nam.
Ba thế hệ trong một khu phố Việt
Thế hệ đầu, những người sang từ nửa sau thế kỷ 20, giữ tiếng Việt, món ăn, lễ Tết gần như nguyên vẹn, có khi còn giữ cách nói, cách viết của thời họ ra đi. Họ là người dựng chùa, lập hội, mở tiệm đầu tiên.
Thế hệ thứ hai sinh ra hoặc lớn lên ở nước ngoài, nói tiếng nước sở tại như tiếng mẹ đẻ, nói tiếng Việt ở nhà với cha mẹ nhưng thường đọc viết yếu. Nhiều người kể mình làm "người phiên dịch" cho cha mẹ từ năm mười tuổi: đọc thư của trường, gọi điện cho bác sĩ, điền đơn thuế. Khoảng cách giữa cha mẹ và con trong các gia đình này không chỉ là ngôn ngữ mà còn là cách nghĩ về học hành, nghề nghiệp, hôn nhân.
Lớp người mới sang trong hai mươi năm gần đây, du học sinh, người lao động, cô dâu Việt, mang theo tiếng Việt và thói quen của Việt Nam hiện đại. Giữa họ và thế hệ đầu có khi có khác biệt về cách dùng từ, cách nhìn về quê nhà. Những cộng đồng sống khoẻ là nơi các lớp người này cùng ngồi một bàn: người cũ chỉ đường, người mới mang thêm sức trẻ cho lớp tiếng Việt, đội văn nghệ, bếp ăn ngày Tết.
Câu hỏi thường gặp
Nước nào có nhiều người Việt nhất ngoài Việt Nam?
Mỹ là nơi có cộng đồng người gốc Việt đông nhất, khoảng 2,2–2,3 triệu người theo điều tra dân số và khảo sát cộng đồng Mỹ giai đoạn 2019–2020. Nếu chỉ tính người đang mang quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài thì Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan có số người Việt tăng nhanh nhất trong mười năm gần đây.
Kiều bào, Việt kiều và người gốc Việt có giống nhau không?
Trong đời thường ba cách gọi hay dùng lẫn. Về giấy tờ, cần phân biệt người còn quốc tịch Việt Nam đang sống ở nước ngoài với người gốc Việt đã mang quốc tịch nước khác, vì quyền về nhà đất, thủ tục xuất nhập cảnh khác nhau. Danh mục "Kiều dân là ai" của trang giải thích kỹ các cách gọi này.
Vì sao người Việt ở Mỹ hay làm nail còn ở Đức hay mở tiệm tạp hoá?
Vì nghề của lớp người đi trước mở đường cho người sau: họ dạy nghề, cho thuê chỗ, giới thiệu việc và cho vay vốn trong cộng đồng. Nghề nail ở Mỹ lan rộng từ cuối thế kỷ 20, còn ở Đức và Séc người Việt quen buôn bán nên mở cửa hàng, quầy bán sỉ. Thế hệ sau phần lớn đi học và làm nghề khác.
Mới sang nước ngoài có nên tin hết người Việt trong nhóm mạng xã hội?
Nhóm người Việt giúp rất nhiều việc như thuê phòng, mua đồ cũ, hỏi đường. Nhưng đây cũng là nơi kẻ gian đăng tin việc làm lương cao, cho vay, đổi tiền, làm giấy tờ nhanh. Không gửi ảnh hộ chiếu, không chuyển tiền cọc cho người chưa gặp, và kiểm lại mọi chuyện giấy tờ với cơ quan chính thức.
Có cần báo cho cơ quan đại diện Việt Nam khi sang sống ở nước ngoài?
Nên đăng ký công dân với đại sứ quán hoặc tổng lãnh sự quán phụ trách vùng mình sống. Việc này giúp cơ quan đại diện liên lạc, xác minh nhân thân nhanh khi bạn mất hộ chiếu, gặp tai nạn hay có thiên tai, và thuận tiện khi làm các thủ tục hộ tịch, hộ chiếu về sau. Cách đăng ký đăng trên trang của từng cơ quan.
Con số người Việt ở một nước lấy ở đâu cho đáng tin?
Nguồn đáng tin nhất là điều tra dân số hoặc thống kê lưu trú của chính nước đó, kèm năm công bố. Cần xem họ đếm người sinh ở Việt Nam, người khai gốc Việt hay người mang quốc tịch Việt Nam, vì ba cách đếm cho ra ba con số rất khác nhau. Con số tổng toàn thế giới chỉ nên hiểu là ước tính.