Người đã mất quốc tịch Việt Nam có thể làm đơn xin trở lại nếu thuộc một trong các diện Luật Quốc tịch 2008 nêu, như xin hồi hương về Việt Nam, có vợ, chồng, cha mẹ đẻ hoặc con đẻ là công dân Việt Nam, có công lao đóng góp, hoặc đầu tư tại Việt Nam. Hồ sơ nộp tại cơ quan đại diện Việt Nam khi ở nước ngoài, hoặc Sở Tư pháp khi đang cư trú ở trong nước; quyết định cuối cùng thuộc Chủ tịch nước.
Thủ tục này chỉ dành cho người đã mất quốc tịch, phần lớn là người từng được cho thôi để nhập quốc tịch ở một nước đòi bỏ quốc tịch cũ. Người chưa bao giờ thôi quốc tịch thì không cần "trở lại", mà nên làm xác nhận có quốc tịch. Nhầm hai thủ tục này là lỗi đầu tiên và phổ biến nhất.
Trước hết: bạn đã mất quốc tịch thật chưa
Rất nhiều người hỏi về trở lại quốc tịch trong khi thật ra họ chưa từng mất. Họ nghĩ việc nhập quốc tịch Mỹ, Pháp hay Úc đã làm mất quốc tịch Việt Nam, hoặc nghe kể rằng lỡ hạn "đăng ký giữ quốc tịch" năm 2014 là mất. Theo Luật Quốc tịch 2008 đã sửa năm 2014, cả hai điều đó đều không làm mất quốc tịch. Căn cứ mất quốc tịch là được thôi, bị tước, bị huỷ quyết định nhập quốc tịch, không đủ điều kiện theo luật, hoặc theo điều ước quốc tế.
Vì vậy, câu hỏi đầu tiên cần trả lời là: bạn có từng ký đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam và có quyết định cho thôi không? Nếu có, bạn đã mất quốc tịch và thủ tục trở lại là đúng đường. Nếu không, hồ sơ trở lại có thể bị trả về với lời giải thích rằng bạn vẫn là công dân Việt Nam, và bạn sẽ mất thời gian chờ đợi vô ích.
Một số trường hợp ở giữa: người được cha mẹ làm thủ tục thôi quốc tịch khi còn nhỏ, người theo cha mẹ nhập quốc tịch nước khác khi chưa thành niên. Ở các trường hợp này nên tìm lại quyết định thôi quốc tịch hoặc danh sách có tên mình, vì đó là căn cứ để biết bạn thuộc diện trở lại hay diện xác nhận.
Các diện được xét trở lại quốc tịch
Xin hồi hương về Việt Nam. Người muốn về sống hẳn ở Việt Nam. Hồi hương là thủ tục riêng về cư trú, và người được cho hồi hương có căn cứ để xin trở lại quốc tịch.
Có vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ là công dân Việt Nam. Đây là diện phổ biến nhất với kiều dân: cha mẹ già ở quê vẫn là công dân Việt Nam, hoặc con cái có quốc tịch Việt Nam. Giấy tờ chứng minh quan hệ là phần quan trọng nhất của hồ sơ.
Có công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Cần giấy tờ ghi nhận cụ thể, ví dụ bằng khen, xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về đóng góp.
Có lợi cho Nhà nước Việt Nam. Thường gắn với chuyên môn, khoa học, kinh tế mà phía Việt Nam đánh giá là có ích.
Thực hiện đầu tư tại Việt Nam. Có dự án, doanh nghiệp, khoản đầu tư hợp pháp tại Việt Nam, kèm giấy tờ đăng ký đầu tư hoặc doanh nghiệp.
Đã thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài nhưng không được nhập. Trường hợp hiếm nhưng có: thôi rồi mà nước kia không chấp thuận, người đó rơi vào cảnh không quốc tịch nào. Luật mở đường cho họ trở lại.
Lấy lại tên gọi Việt Nam: một yêu cầu ít người biết trước
Luật Quốc tịch 2008 yêu cầu người xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải lấy lại tên gọi trước đây, và tên gọi này được ghi rõ trong quyết định cho trở lại. Với người đã đổi sang tên nước ngoài, ví dụ một chị tên Nguyễn Thị Hoa sang Đức nhập quốc tịch và đổi thành Hoa Nguyen-Schmidt, phía Việt Nam sẽ ghi lại tên Nguyễn Thị Hoa.
Điều này không làm thay đổi tên trên hộ chiếu nước ngoài, nhưng tạo ra hai tên chính thức ở hai nước. Hệ quả là bạn cần giữ đủ giấy tờ nối hai tên: giấy kết hôn, quyết định đổi tên, giấy nhập quốc tịch nước ngoài có ghi tên cũ. Khi làm nhà đất, ngân hàng hay hộ tịch ở Việt Nam sau này, bạn sẽ dùng tên Việt; khi đi lại bằng hộ chiếu nước ngoài, bạn dùng tên ghi trên đó.
Nếu tên cũ của bạn có nhiều cách viết khác nhau qua các đời giấy tờ, hãy chọn tên đúng với giấy khai sinh và nói rõ trong đơn. Sai lệch nhỏ như thiếu tên đệm, sai dấu, gộp hai chữ thành một, nếu để lọt vào quyết định trở lại, sẽ thành nguồn rắc rối kéo dài khi đối chiếu với sổ hộ tịch và giấy tờ đất đai cũ.
Có phải bỏ quốc tịch nước ngoài đang có?
Theo nguyên tắc, người được trở lại quốc tịch Việt Nam phải thôi quốc tịch nước ngoài. Luật cho phép ngoại lệ trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép, với những người như vợ, chồng, cha mẹ đẻ, con đẻ của công dân Việt Nam, người có công lao đặc biệt, hoặc việc giữ quốc tịch nước ngoài có lợi cho Nhà nước Việt Nam. Người xin giữ quốc tịch nước ngoài thường phải nêu rõ trong hồ sơ và cam kết các điều kiện theo quy định hiện hành.
Với kiều dân, đây là điểm cần cân nhắc kỹ nhất. Cuộc sống, công việc, lương hưu, bảo hiểm của bạn có thể đều gắn với quốc tịch nước sở tại. Nếu bạn ở một nước không cho mang hai quốc tịch, việc trở lại quốc tịch Việt Nam có thể kéo theo hậu quả với quốc tịch bên kia; ngược lại, ở nước cho phép hai quốc tịch, bạn vẫn phải được phía Việt Nam đồng ý giữ quốc tịch nước ngoài.
Vì thế, trước khi nộp đơn, nên đọc cả hai phía: hỏi cơ quan đại diện Việt Nam về điều kiện giữ quốc tịch nước ngoài khi trở lại, và kiểm luật quốc tịch của nước bạn đang sống xem việc nhận lại một quốc tịch khác có ảnh hưởng gì. Một quyết định quốc tịch thường không gỡ được trong vài tháng, nên đừng làm chỉ vì một nhu cầu ngắn hạn như mua một mảnh đất.
Hồ sơ và đường đi của đơn xin trở lại
Danh mục cụ thể có thể thay đổi; dưới đây là khung thường gặp để bạn gom giấy tờ sớm:
- Đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam theo mẫu, ghi tên gọi Việt Nam muốn lấy lại và có hay không xin giữ quốc tịch nước ngoài.
- Bản khai lý lịch, kể lại quá trình sinh sống, học tập, làm việc qua các nước.
- Bản sao giấy tờ tuỳ thân đang dùng, thường là hộ chiếu nước ngoài.
- Phiếu lý lịch tư pháp: do Việt Nam cấp với thời gian cư trú ở Việt Nam và do nước sở tại cấp với thời gian cư trú ở nước ngoài, theo hướng dẫn hiện hành.
- Giấy tờ chứng minh từng có quốc tịch Việt Nam và đã mất: quyết định cho thôi, hộ chiếu Việt Nam cũ, khai sinh.
- Giấy tờ chứng minh diện xin trở lại: giấy khai sinh, giấy kết hôn chứng minh quan hệ với công dân Việt Nam; giấy đầu tư; xác nhận công lao.
- Nộp tại cơ quan đại diện Việt Nam nơi cư trú. Hồ sơ được chuyển về trong nước để thẩm tra, qua Bộ Tư pháp rồi trình Chủ tịch nước quyết định.
Đây là thủ tục nhiều tầng, thời gian thực tế thường dài hơn mốc ghi trên giấy. Giữ bản chụp toàn bộ hồ sơ, theo dõi qua cơ quan đại diện và đừng tin lời hứa "lo nhanh" từ người không có thẩm quyền.
Sau khi có quyết định: những việc cần làm tiếp
Quyết định cho trở lại quốc tịch là điểm khởi đầu, không phải điểm kết thúc. Việc đầu tiên thường là xin cấp hộ chiếu Việt Nam tại cơ quan đại diện, vì đó là giấy đi lại và giấy chứng minh quốc tịch dễ dùng nhất. Nếu bạn về sống ở Việt Nam, tiếp theo là đăng ký thường trú theo Luật Cư trú 2020 và làm thẻ căn cước theo Luật Căn cước 2023.
Nếu được giữ quốc tịch nước ngoài, bạn trở thành người hai quốc tịch và cần dùng giấy tờ nhất quán khi xuất nhập cảnh. Nếu phải thôi quốc tịch nước ngoài, hãy làm đúng thủ tục ở nước kia và giữ văn bản xác nhận, vì có thể phía Việt Nam cần xem để hoàn tất hồ sơ của bạn.
Với nhà đất, quyền của bạn quay về như công dân Việt Nam theo Luật Đất đai 2024. Các giao dịch trước đây làm với tư cách người gốc Việt không tự động thay đổi; nếu muốn cập nhật giấy chứng nhận, hãy hỏi văn phòng đăng ký đất đai nơi có đất. Cuối cùng, cập nhật giấy tờ của con chưa thành niên nếu con cũng thuộc diện, vì quốc tịch của con không tự động đi theo quyết định của cha mẹ trong mọi trường hợp.
Những chỗ hồ sơ trở lại hay vướng
Không chứng minh được đã từng có quốc tịch Việt Nam. Người đi từ nhỏ, không còn hộ chiếu cũ, khai sinh thất lạc thường kẹt ở bước đầu. Hãy gom mọi giấy bổ trợ: giấy tờ của cha mẹ, học bạ, giấy tờ cư trú cũ, và nhờ người thân trong nước xin trích lục khai sinh từ nơi đã đăng ký.
Không có quyết định cho thôi trong tay. Người được cha mẹ làm thủ tục thôi quốc tịch khi còn nhỏ thường không giữ quyết định. Nêu rõ năm nộp, nơi nộp trong đơn để cơ quan tiếp nhận có đầu mối tra cứu.
Giấy tờ quan hệ gia đình thiếu mắt xích. Muốn dùng diện có cha mẹ là công dân Việt Nam, bạn phải chứng minh được người đó là cha, mẹ đẻ của mình và đang là công dân Việt Nam. Khai sinh của bạn và giấy tờ quốc tịch của cha mẹ phải ghép được với nhau, kể cả khi tên đã đổi.
Lý lịch tư pháp nhiều nước. Người từng sống ở hai, ba nước có thể phải xin lý lịch tư pháp ở từng nơi theo hướng dẫn, mỗi nơi một quy trình và thời gian khác nhau. Xin sớm, vì giấy này thường có thời hạn sử dụng ngắn khi nộp hồ sơ.
Dịch và hợp pháp hoá không đúng cách. Giấy tờ nước ngoài thường cần dịch sang tiếng Việt và hợp pháp hoá lãnh sự, trừ khi được miễn. Bản dịch sai tên riêng, sai ngày tháng là lý do bị yêu cầu bổ sung hay gặp nhất.
Câu hỏi thường gặp
Trở lại quốc tịch Việt Nam mất bao lâu?
Không có con số chung đáng tin. Hồ sơ đi qua cơ quan đại diện, Bộ Tư pháp và Văn phòng Chủ tịch nước, có thể cần thẩm tra nhân thân trong nước. Hãy đọc mốc thời gian đăng trên trang của cơ quan đại diện và chuẩn bị tinh thần chờ lâu hơn khi hồ sơ cần bổ sung.
Cha mẹ ở Việt Nam đã mất thì còn diện "có cha mẹ là công dân Việt Nam" không?
Diện này dựa vào quan hệ với công dân Việt Nam, nên khi cha mẹ đã mất, bạn nên hỏi cơ quan đại diện cách chứng minh. Nếu bạn còn vợ chồng, con là công dân Việt Nam, hoặc muốn hồi hương, có thể dùng diện khác phù hợp hơn.
Có thể vừa xin trở lại quốc tịch vừa xin giữ hộ chiếu Mỹ không?
Có thể xin, nhưng không mặc nhiên được. Việc giữ quốc tịch nước ngoài là ngoại lệ do Chủ tịch nước cho phép với một số diện. Hãy ghi rõ nguyện vọng trong đơn và chuẩn bị giấy tờ chứng minh mình thuộc diện được xét giữ.
Con chưa thành niên có được trở lại quốc tịch cùng cha mẹ không?
Luật Quốc tịch có quy định riêng về quốc tịch của con chưa thành niên khi cha mẹ được trở lại; con từ đủ mười lăm đến dưới mười tám tuổi cần có ý kiến đồng ý bằng văn bản. Ghi tên con vào hồ sơ theo hướng dẫn của cơ quan đại diện.
Bị từ chối trở lại quốc tịch thì có làm lại được không?
Một quyết định từ chối thường kèm lý do. Nếu lý do là thiếu giấy tờ hay chưa đủ điều kiện, bạn có thể bổ sung và nộp lại khi đủ. Nếu thuộc diện luật không cho trở lại, việc nộp lại khó có kết quả khác.
Có nhất thiết phải về Việt Nam để làm thủ tục trở lại không?
Không. Người đang sống ở nước ngoài nộp tại cơ quan đại diện Việt Nam phụ trách nơi mình cư trú. Bạn chỉ cần về khi muốn nhận giấy tờ trong nước hoặc khi chính cơ quan tiếp nhận yêu cầu có mặt.