Người Việt sống ở nước ngoài có nhà đất ở Việt Nam nên lập di chúc bằng văn bản, rõ từng tài sản ở Việt Nam, theo hình thức được pháp luật Việt Nam công nhận, và để người thân biết di chúc đang được giữ ở đâu. Theo nguyên tắc của Bộ luật Dân sự 2015 về thừa kế có yếu tố nước ngoài, việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có bất động sản, nên với nhà đất ở Việt Nam, luật Việt Nam có tiếng nói quyết định.
Không có di chúc, tài sản chia theo hàng thừa kế, và con cháu ở ba bốn nước phải cùng ký mới xong việc. Có di chúc rõ ràng, việc đó gọn hơn nhiều. Bài này giải thích cách lập cho đúng, những lỗi khiến di chúc vô hiệu và cách phối hợp với di chúc lập theo luật nước bạn đang sống.
Vì sao người ở xa càng nên có di chúc
Khi không có di chúc, thừa kế theo pháp luật chia đều cho những người cùng hàng, và mọi người thừa kế phải tham gia văn bản thoả thuận hoặc khai nhận. Với gia đình có con cháu sống ở nhiều nước, điều này nghĩa là nhiều chuyến đến cơ quan đại diện, nhiều bản dịch, nhiều lần hợp pháp hoá, và chỉ một người vắng mặt là hồ sơ dừng lại.
Di chúc rõ ràng cho phép bạn chọn ai nhận tài sản ở Việt Nam, ví dụ để căn nhà ở quê cho người con còn quốc tịch Việt Nam, người có thể đứng tên, còn tài sản ở nước sở tại cho những người con khác. Cách sắp xếp như vậy tránh được tình huống một người thừa kế không đủ điều kiện đứng tên phần đất nông nghiệp và phải chuyển nhượng lại.
Di chúc cũng là nơi bạn chỉ định người quản lý di sản, ý nguyện về căn nhà thờ cúng, về phần mộ ở quê. Những điều này không phải lúc nào cũng ràng buộc tuyệt đối, nhưng giúp con cháu biết ý bạn, thay vì đoán và tranh cãi.
Bốn hình thức di chúc bằng văn bản theo Bộ luật Dân sự 2015
Di chúc phải lập thành văn bản; di chúc miệng chỉ được chấp nhận trong trường hợp tính mạng bị cái chết đe doạ và có điều kiện chặt chẽ. Với người ở nước ngoài, bốn hình thức văn bản dưới đây là lựa chọn thực tế.
| Hình thức | Điều kiện chính | Ưu điểm | Rủi ro |
|---|---|---|---|
| Di chúc tự viết, không người làm chứng | Người lập tự tay viết và ký toàn bộ | Làm được ở bất cứ đâu, không cần ai | Dễ bị tranh cãi về chữ viết, năng lực khi lập; dễ thất lạc |
| Di chúc có người làm chứng | Ít nhất hai người làm chứng đủ điều kiện, ký xác nhận | Không cần cơ quan nhà nước | Người làm chứng không được là người thừa kế hoặc người có quyền lợi liên quan |
| Di chúc có công chứng | Lập trước công chứng viên | Giá trị chứng cứ cao, ít bị tranh cãi | Phải đến nơi công chứng; người ở xa cần hỏi khả năng làm ở cơ quan đại diện |
| Di chúc có chứng thực | Chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền | Thủ tục đơn giản hơn công chứng ở một số nơi | Cần kiểm cơ quan nào được chứng thực loại việc này |
Với nhà đất, di chúc có công chứng thường là lựa chọn an toàn nhất, vì tổ chức công chứng ở Việt Nam sẽ dựa vào nó để lập văn bản khai nhận sau này. Nếu về nước được, lập tại tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam là cách gọn nhất.
Luật nước nào áp dụng cho di chúc của người ở nước ngoài
Bộ luật Dân sự 2015 có chương riêng về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Theo nguyên tắc chung trong đó, thừa kế được xác định theo pháp luật của nước mà người để lại di sản có quốc tịch ngay trước khi chết, còn việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản theo pháp luật của nước nơi có bất động sản.
Về di chúc, năng lực lập di chúc xác định theo pháp luật của nước mà người lập có quốc tịch tại thời điểm lập. Hình thức di chúc được công nhận tại Việt Nam nếu phù hợp pháp luật của một trong các nơi: nơi lập di chúc, nơi người lập cư trú hoặc có quốc tịch tại thời điểm lập hoặc thời điểm chết, hoặc nơi có bất động sản. Nói cách khác, một di chúc lập đúng hình thức theo luật nước bạn đang sống vẫn có thể được công nhận ở Việt Nam về mặt hình thức.
Nhưng "được công nhận về hình thức" chưa phải là "dùng được ngay". Di chúc lập ở nước ngoài phải được hợp pháp hoá lãnh sự (trừ khi được miễn), dịch sang tiếng Việt có chứng thực, và nội dung phải đủ rõ để tổ chức công chứng xác định tài sản. Di chúc kiểu "để lại toàn bộ tài sản cho vợ" lập theo mẫu nước ngoài thường thiếu số thửa, số giấy chứng nhận, và có thể vướng quy định về người thừa kế không phụ thuộc di chúc của Việt Nam.
Đây là vùng phức tạp, đặc biệt với người có hai quốc tịch. Khi tài sản lớn hoặc gia đình có nhiều quốc tịch, nên hỏi luật sư ở cả hai nước trước khi lập.
Những lỗi khiến di chúc khó dùng hoặc vô hiệu
Mô tả tài sản mơ hồ. Viết "căn nhà ở quê" thay vì ghi số giấy chứng nhận, số thửa, địa chỉ. Sau sáp nhập đơn vị hành chính năm 2025, nên ghi cả tên xã, tỉnh hiện hành và tên cũ trên giấy chứng nhận.
Định đoạt tài sản không phải của riêng mình. Nhà đất là tài sản chung vợ chồng thì mỗi người chỉ định đoạt được phần của mình. Vợ chồng có thể lập di chúc chung theo quy định, hoặc mỗi người một bản.
Bỏ qua người thừa kế không phụ thuộc vào di chúc. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên mà không có khả năng lao động vẫn được hưởng phần bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, trừ khi họ từ chối hoặc không có quyền hưởng. Di chúc phớt lờ điều này sẽ bị điều chỉnh khi chia.
Người làm chứng không hợp lệ. Người thừa kế, người có quyền lợi liên quan, người chưa thành niên không được làm chứng. Lỗi này hay gặp khi gia đình tự lập di chúc ở nước ngoài và nhờ chính con cháu ký làm chứng.
Ngôn ngữ người lập không hiểu. Người lớn tuổi không đọc thạo tiếng nước sở tại ký di chúc soạn bằng tiếng nước ngoài mà không có phiên dịch là điểm yếu dễ bị tranh cãi.
Hai di chúc ở hai nước: phối hợp thế nào
Nhiều luật sư làm việc với gia đình có tài sản ở nhiều nước khuyên lập di chúc riêng cho từng nước, mỗi bản chỉ định đoạt tài sản ở nước đó và theo hình thức của nước đó. Cách này giúp từng bản dễ dùng ở nơi có tài sản.
Rủi ro lớn nhất là bản lập sau vô tình huỷ bản lập trước. Nhiều mẫu di chúc ở nước ngoài có câu mở đầu kiểu "huỷ bỏ mọi di chúc trước đây". Nếu bạn lập di chúc cho tài sản ở Việt Nam năm nay, rồi năm sau lập di chúc ở nước sở tại với câu đó, bản ở Việt Nam có thể bị xem là đã bị huỷ. Hãy yêu cầu luật sư nước sở tại ghi rõ phạm vi: di chúc này chỉ áp dụng cho tài sản ở nước đó, không ảnh hưởng tới di chúc về tài sản ở Việt Nam.
Hai bản cũng phải thống nhất về người thừa kế và ý nguyện chung. Ví dụ giả định: bản ở Việt Nam để nhà cho con cả, bản ở nước sở tại nói chia đều mọi tài sản cho ba con. Hai bản đá nhau khiến các con tranh chấp, và tòa ở mỗi nước có thể hiểu một kiểu.
Giữ di chúc ở đâu và để ai biết
Một di chúc không ai tìm thấy cũng như không có. Người ở xa nên tính trước nơi giữ và cách để người cần biết sẽ biết.
- Gửi giữ tại tổ chức hành nghề công chứng đã công chứng di chúc, hoặc nơi nhận lưu giữ di chúc theo quy định; ghi lại tên và địa chỉ nơi giữ.
- Giữ một bản sao ở nhà bạn ở nước ngoài, cùng nơi với giấy tờ quan trọng khác, kèm ghi chú song ngữ nếu con cháu không đọc thạo tiếng Việt.
- Báo cho ít nhất một người tin cậy, có thể là người được chỉ định quản lý di sản, rằng di chúc tồn tại và đang được giữ ở đâu, dù không nói nội dung.
- Khi thay đổi di chúc, huỷ bản cũ đúng cách và thông báo cho nơi giữ, tránh tình trạng hai bản cùng lưu hành.
- Xem lại di chúc khi có thay đổi lớn: bán hoặc mua thêm tài sản ở Việt Nam, kết hôn, ly hôn, có cháu, có người thừa kế đổi quốc tịch.
Nếu người thừa kế ở nước ngoài, nên kèm danh sách giấy tờ họ sẽ cần sau này: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy tờ hộ tịch, và tên người ở quê biết rõ tài sản. Danh sách ấy giúp con cháu đỡ nhiều tháng đi tìm.
Nói chuyện với con cái về di chúc
Ở nhiều gia đình Việt, nói chuyện di chúc khi còn khoẻ bị xem là không may. Với gia đình ở xa, sự im lặng ấy có giá cao hơn: con cái lớn lên ở nước ngoài không biết căn nhà ở quê, không biết họ hàng nào giữ giấy tờ, không biết cha mẹ muốn gì.
Không cần đọc di chúc cho con nghe. Chỉ cần nói những điều cốt lõi: ở Việt Nam có tài sản gì, cha mẹ đã lập di chúc, di chúc được giữ ở đâu, và lý do của những sắp xếp đặc biệt, ví dụ vì sao để căn nhà cho người em ở quê thờ cúng ông bà. Lý do được nói ra từ chính cha mẹ thường được con cái tôn trọng hơn lý do mà họ phải đoán khi đọc văn bản sau tang lễ.
Cuộc nói chuyện này cũng là dịp kiểm tra thực tế: con cái có còn giữ quốc tịch Việt Nam không, có ý định về quê không, có ai sẵn lòng nhận việc thờ cúng hay trông coi phần mộ. Câu trả lời đôi khi khiến cha mẹ thay đổi cách phân bổ, ví dụ để căn nhà cho người con định về sống, và để phần ruộng cho người em ở quê kèm nghĩa vụ trả lại giá trị cho các anh chị. Biết sớm những điều này giúp di chúc khớp với đời sống thật của gia đình.
Câu hỏi thường gặp
Di chúc viết tay bằng tiếng Việt, gửi từ nước ngoài về có giá trị không?
Di chúc tự viết tay, ký toàn bộ có thể hợp lệ về hình thức theo Bộ luật Dân sự 2015 nếu người lập minh mẫn, tự nguyện và nội dung không trái luật. Tuy nhiên dạng này dễ bị tranh cãi về chữ viết và hoàn cảnh lập. Với nhà đất, di chúc có công chứng an toàn hơn nhiều.
Có thể lập di chúc tại đại sứ quán, tổng lãnh sự quán Việt Nam không?
Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện công chứng, chứng thực một số loại việc cho công dân theo quy định. Phạm vi cụ thể và lịch làm việc khác nhau giữa các nơi. Hãy liên hệ qua kênh chính thức của cơ quan đại diện nơi bạn sống để hỏi trước.
Đã có quốc tịch nước khác thì di chúc về nhà đất ở Việt Nam theo luật nào?
Theo nguyên tắc của Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế xác định theo luật nước bạn có quốc tịch ngay trước khi chết, nhưng việc thực hiện quyền thừa kế với bất động sản theo luật nơi có bất động sản. Với người hai quốc tịch, việc xác định còn phức tạp hơn, nên hỏi luật sư.
Di chúc để nhà cho người con không còn quốc tịch Việt Nam thì có được không?
Được lập, nhưng người con ấy chỉ đứng tên được phần thuộc diện người gốc Việt Nam được sở hữu, như nhà ở gắn với đất ở. Với đất nông nghiệp riêng, họ được hưởng giá trị bằng cách chuyển nhượng hoặc tặng cho. Cha mẹ nên cân nhắc khi phân bổ tài sản.
Di chúc có cần cập nhật khi tên xã, tỉnh thay đổi sau sáp nhập không?
Di chúc ghi tài sản theo tên cũ vẫn có thể xác định được tài sản nếu có số thửa, số giấy chứng nhận. Tuy vậy khi có dịp sửa di chúc, nên ghi thêm tên đơn vị hành chính hiện hành để người thực hiện đỡ phải đối chiếu.
Người ở nước ngoài lập di chúc rồi có thể sửa hay huỷ không?
Người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc huỷ bỏ di chúc bất cứ lúc nào khi còn sống và minh mẫn. Bản mới nên lập theo hình thức chắc chắn, thông báo cho nơi giữ bản cũ, và nói rõ bản mới thay thế bản nào.