KieuDan.comKiều Dân
Tiền bạc và thuế hai nước

Hiệp định tránh đánh thuế hai lần: người Việt ở nước ngoài dùng thế nào cho đúng

Hiệp định tránh đánh thuế hai lần chia quyền đánh thuế giữa Việt Nam và nước bạn sống: đọc điều khoản nào, khấu trừ hay miễn, cần giấy tờ gì để được áp dụng.

Two Vietnamese siblings seen from behind at a dining table, one in a winter sweater on a laptop video call, warm overhead lamp, over-the-shoulder view

Hiệp định tránh đánh thuế hai lần là thoả thuận giữa hai nước để một khoản thu nhập không bị cả hai nước đánh thuế đầy đủ. Hiệp định không miễn thuế cho bạn; nó quyết định với từng loại thu nhập, nước nào được đánh thuế, nước nào phải trừ phần thuế đã nộp ở nước kia hoặc bỏ qua khoản đó.

Việt Nam đã ký hiệp định loại này với khoảng tám mươi nước và vùng lãnh thổ, theo danh sách cơ quan thuế công bố những năm gần đây. Với người Việt ở nước ngoài, hiệp định có ích nhất ở ba khoản: tiền cho thuê hoặc bán nhà đất ở Việt Nam, lãi và cổ tức ở Việt Nam, và lương hưu khi về nước. Bài này giải thích cách đọc một hiệp định, hai phương pháp xoá đánh thuế hai lần, và giấy tờ cần có để được áp dụng.

Hiệp định giải quyết vấn đề gì

Mỗi nước tự viết luật thuế của mình. Việt Nam đánh thuế thu nhập phát sinh tại Việt Nam; nước bạn đang sống thường đánh thuế toàn bộ thu nhập của người cư trú, kể cả phần ở Việt Nam. Nếu không có cơ chế nào, tiền cho thuê căn nhà ở Hải Phòng có thể bị đánh thuế ở Việt Nam một lần, rồi lại bị đánh đủ ở Pháp lần nữa. Đó là đánh thuế hai lần.

Hiệp định chia lại quyền đánh thuế theo từng loại thu nhập. Nó cũng có điều khoản phân xử khi một người bị cả hai nước coi là cư trú, điều khoản không phân biệt đối xử, điều khoản trao đổi thông tin giữa hai cơ quan thuế và thủ tục thoả thuận song phương khi người nộp thuế thấy mình bị đánh sai.

Phần lớn hiệp định Việt Nam ký theo khung mẫu quốc tế phổ biến, nên cấu trúc các điều khoản khá giống nhau. Điểm khác nằm ở chi tiết: mức thuế tối đa với lãi, cổ tức, tiền bản quyền; cách xử lý lương hưu; thời điểm có hiệu lực. Vì vậy luôn phải đọc đúng văn bản hiệp định giữa Việt Nam và nước của bạn, không suy từ hiệp định nước khác.

Các loại thu nhập người xa xứ hay gặp và nguyên tắc chia quyền

Bảng dưới là nguyên tắc phổ biến trong các hiệp định theo khung mẫu quốc tế. Từng hiệp định cụ thể có thể khác, nhất là với lương hưu và thu nhập từ dịch vụ.

Loại thu nhậpNước được đánh thuế trướcNước còn lại thường làm gì
Tiền cho thuê nhà đất ở Việt NamViệt Nam (nơi có bất động sản)Đánh thuế nhưng trừ phần đã nộp ở Việt Nam, hoặc miễn
Tiền bán nhà đất ở Việt NamViệt NamTính vào thu nhập vốn, trừ thuế đã nộp ở Việt Nam
Lãi tiền gửi, cổ tức ở Việt NamCả hai, nhưng Việt Nam bị giới hạn mức tối đaĐánh thuế, trừ phần Việt Nam đã khấu trừ
Tiền lương làm việc ở nước đang sốngNước nơi làm việcViệt Nam không đánh nếu bạn không cư trú ở Việt Nam
Lương hưu tư nhân, hưu trí doanh nghiệpThường là nước nơi người nhận cư trúNước chi trả thường không đánh hoặc đánh hạn chế
Lương hưu do nhà nước, cơ quan công quyền trảThường là nước chi trảTuỳ hiệp định, có ngoại lệ với công dân nước cư trú

Hàng cuối cùng là chỗ hay nhầm nhất. Người làm công chức ở nước ngoài rồi về Việt Nam nghỉ hưu cần đọc kỹ điều khoản về thu nhập từ phục vụ nhà nước, vì nó khác hẳn lương hưu thông thường.

Hai cách xoá đánh thuế hai lần

Phương pháp khấu trừ. Nước cư trú vẫn tính thuế trên toàn bộ thu nhập, rồi trừ đi phần thuế đã nộp ở nước nguồn, nhưng không trừ quá số thuế mà nước cư trú tính trên chính khoản thu nhập đó. Việt Nam chủ yếu dùng cách này khi bạn là người cư trú Việt Nam có thu nhập ở nước ngoài.

Phương pháp miễn. Nước cư trú bỏ hẳn khoản thu nhập đã được đánh thuế ở nước nguồn ra khỏi diện chịu thuế, nhưng có thể vẫn tính nó vào để xác định mức thuế suất cho phần thu nhập còn lại. Một số nước châu Âu dùng cách này với thu nhập từ bất động sản ở nước ngoài.

Ví dụ giả định với phương pháp khấu trừ. Anh Tùng sống ở Canada, cho thuê căn nhà ở Huế. Năm qua anh đã nộp thuế cho thuê tài sản ở Việt Nam. Khi khai thuế ở Canada, anh khai tiền thuê nhà đã quy đổi, tính thuế Canada trên khoản đó, rồi xin trừ phần đã nộp ở Việt Nam. Nếu thuế Việt Nam thấp hơn thuế Canada tính trên cùng khoản, anh nộp phần chênh lệch; nếu cao hơn, phần dư thường không được hoàn.

Điều kiện chung cho cả hai cách. Phải chứng minh được đã nộp thuế ở nước kia: chứng từ nộp thuế, tờ khai, xác nhận của cơ quan thuế. Không có giấy, cơ quan thuế nước cư trú có quyền không cho trừ.

Đọc một hiệp định thuế cho trường hợp của mình

Văn bản hiệp định nghe khô nhưng có trật tự cố định. Có thể đọc theo các bước sau, mất chừng một buổi:

  1. Tìm văn bản hiệp định giữa Việt Nam và nước bạn sống trên trang của cơ quan thuế một trong hai nước, ghi lại ngày ký và ngày có hiệu lực.
  2. Đọc điều khoản về đối tượng áp dụng và định nghĩa người cư trú, kiểm mình thuộc diện nào.
  3. Liệt kê các loại thu nhập của mình ở Việt Nam, rồi tìm điều khoản tương ứng: thu nhập từ bất động sản, tiền lãi, cổ tức, thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, lương hưu.
  4. Với mỗi khoản, ghi nước nào được đánh thuế và mức trần nếu có.
  5. Đọc điều khoản về biện pháp xoá bỏ đánh thuế hai lần để biết nước cư trú dùng khấu trừ hay miễn.
  6. Đối chiếu với hướng dẫn của cơ quan thuế nước đang sống về cách khai khoản thu nhập nước ngoài và xin trừ thuế.

Nếu sau các bước trên vẫn còn khoản không rõ thuộc điều nào, đó là lúc đáng trả công cho người làm thuế có chứng chỉ. Mang theo ghi chép của mình sẽ rút ngắn buổi tư vấn đáng kể.

Thủ tục để được áp dụng hiệp định ở Việt Nam

Ở chiều Việt Nam, người nộp thuế không cư trú muốn hưởng mức thuế ưu đãi theo hiệp định, hoặc muốn được miễn ở Việt Nam khoản mà hiệp định dành cho nước kia, phải làm thủ tục thông báo hoặc đề nghị áp dụng hiệp định với cơ quan thuế quản lý. Hồ sơ thường gồm giấy chứng nhận cư trú do cơ quan thuế nước cư trú cấp cho năm liên quan, đã hợp pháp hoá lãnh sự nếu không được miễn, kèm giấy tờ về khoản thu nhập như hợp đồng, chứng từ thanh toán.

Khi tổ chức ở Việt Nam trả thu nhập cho bạn, như công ty trả cổ tức hay tiền công, họ thường là bên khấu trừ thuế. Bạn cần gửi giấy tờ cho họ trước khi chi trả để được áp dụng đúng mức; nếu đã bị khấu trừ theo mức thông thường, thủ tục đề nghị hoàn lại phần chênh lệch sẽ lâu hơn nhiều.

Người ở xa có thể ủy quyền cho người thân hoặc tổ chức hành nghề làm thủ tục này thay. Giấy ủy quyền ký ở nước ngoài thường chứng thực chữ ký tại cơ quan đại diện Việt Nam; nên ghi rõ phạm vi là làm thủ tục thuế cho khoản thu nhập nào, năm nào, để người được ủy quyền không bị cơ quan thuế từ chối vì giấy quá chung chung.

Ở chiều nước cư trú, việc xin trừ thuế đã nộp ở Việt Nam thường làm ngay trong tờ khai thuế hằng năm, với chứng từ nộp thuế Việt Nam đính kèm hoặc lưu sẵn để xuất trình. Chứng từ bằng tiếng Việt có thể phải dịch.

Khi hai nước chưa có hiệp định hoặc hiệp định chưa có hiệu lực

Không có hiệp định không có nghĩa là chắc chắn bị đánh thuế hai lần. Nhiều nước, kể cả Việt Nam, có quy định trong luật nội địa cho người cư trú được trừ thuế đã nộp ở nước ngoài với thu nhập phát sinh ở nước ngoài, dù không có hiệp định. Chỉ là điều kiện chặt hơn, giấy tờ đòi hỏi nhiều hơn, và không có cơ chế phân xử khi cả hai nước cùng coi bạn là cư trú.

Trường hợp quen thuộc với người Việt là Hoa Kỳ: hiệp định với Việt Nam đã ký năm 2015, nhưng theo thông tin công bố tới gần đây vẫn chưa có hiệu lực. Người sống ở Mỹ có thu nhập ở Việt Nam dựa vào cơ chế khấu trừ thuế nước ngoài trong luật thuế liên bang Mỹ. Người Việt mang quốc tịch Mỹ về Việt Nam sống thì còn thêm lớp phức tạp vì Mỹ đánh thuế theo công dân. Đây là nhóm nên có người làm thuế quen hồ sơ hai nước.

Ngoài ra, một số nước có hiệp định nhưng không phủ mọi loại thuế, ví dụ không phủ thuế thừa kế hoặc thuế địa phương. Đọc phần phạm vi thuế ở đầu hiệp định để biết.

Những chỗ hay sai khi dùng hiệp định

Lỗi phổ biến nhất là coi hiệp định như tấm giấy miễn thuế, rồi không khai khoản thu nhập ở một trong hai nước. Hiệp định chỉ có hiệu lực với người khai đúng; khoản không khai thì không có gì để khấu trừ hay miễn.

Lỗi thứ hai là dùng giấy chứng nhận cư trú sai năm. Giấy này cấp theo năm tính thuế, nên năm nào có thu nhập cần áp dụng thì cần giấy của năm đó. Lỗi thứ ba là quy đổi tiền sai: khi khai ở nước ngoài, thu nhập và thuế đã nộp bằng đồng Việt Nam phải quy đổi theo tỷ giá mà cơ quan thuế nước đó chấp nhận, thường là tỷ giá ngày nhận hoặc tỷ giá trung bình năm, và phải nhất quán qua các năm.

Lỗi thứ tư là tin vào lời truyền miệng trong cộng đồng. Câu "bên này có hiệp định rồi, khỏi khai" lan rất nhanh trong các nhóm đồng hương, nhưng hoàn cảnh mỗi người khác nhau: người có nhà cho thuê, người có cổ phần, người sắp về hưu đọc cùng một hiệp định sẽ rơi vào những điều khoản khác nhau. Kinh nghiệm của người quen chỉ nên dùng làm gợi ý để hỏi, không phải để làm theo.

Lỗi thứ năm là bỏ quên thủ tục thoả thuận song phương. Khi bạn tin mình bị đánh thuế trái hiệp định và trao đổi với cơ quan thuế không xong, hiệp định cho phép đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước mình làm việc với nước kia. Thủ tục này chậm nhưng có thật, và thường có thời hạn kể từ khi nhận thông báo thuế.

Câu hỏi thường gặp

Hiệp định có làm tổng thuế của mình thấp hơn không?

Thường là không thấp hơn mức thuế cao hơn trong hai nước. Hiệp định chỉ đảm bảo bạn không nộp đủ thuế cho cả hai nước trên cùng một khoản. Với phương pháp khấu trừ, tổng thuế xấp xỉ mức của nước có thuế cao hơn. Với một số khoản như lãi, cổ tức, hiệp định giới hạn mức nước nguồn được thu, nên phần nộp ở Việt Nam có thể giảm.

Giấy chứng nhận cư trú có cần hợp pháp hoá lãnh sự không?

Theo nguyên tắc chung, giấy tờ do cơ quan nước ngoài cấp dùng ở Việt Nam phải hợp pháp hoá lãnh sự, trừ khi được miễn theo điều ước hoặc nguyên tắc có đi có lại. Có thể hợp pháp hoá tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước cấp giấy. Nên hỏi trước cơ quan thuế Việt Nam xem trường hợp của bạn cần bản như thế nào.

Nộp thuế ở Việt Nam nhiều hơn mức phải nộp ở nước ngoài thì phần dư có được hoàn không?

Thông thường không. Với phương pháp khấu trừ, nước cư trú chỉ cho trừ tối đa bằng số thuế họ tính trên cùng khoản thu nhập. Phần nộp ở Việt Nam vượt mức đó không được nước cư trú hoàn. Nếu phần đã nộp ở Việt Nam cao hơn mức hiệp định cho phép, bạn có thể đề nghị cơ quan thuế Việt Nam hoàn phần vượt.

Thừa kế nhà ở Việt Nam có được hiệp định che chắn không?

Phần lớn hiệp định thuế thu nhập không bao gồm thuế thừa kế hay thuế tặng cho. Việt Nam miễn thuế thu nhập với thừa kế bất động sản giữa một số quan hệ thân thuộc, nhưng nước bạn đang sống có thể có thuế thừa kế riêng. Cần hỏi cơ quan thuế nước đó trước khi nhận hoặc bán tài sản thừa kế.

Tìm văn bản hiệp định bằng tiếng Việt ở đâu?

Cơ quan thuế Việt Nam đăng danh sách và toàn văn các hiệp định đã ký, thường có bản tiếng Việt và tiếng Anh. Cơ quan thuế nhiều nước cũng đăng bản bằng ngôn ngữ của họ. Khi hai bản có cách hiểu khác nhau, hiệp định thường quy định bản tiếng Anh hoặc một bản cụ thể được dùng làm căn cứ.

Người lao động ở Hàn Quốc, Nhật Bản có cần lo về hiệp định không?

Người lao động hợp đồng có tiền lương ở nước sở tại thường nộp thuế ở đó và không phát sinh thuế ở Việt Nam nếu không cư trú ở Việt Nam. Hiệp định trở nên quan trọng khi bạn có thêm thu nhập ở Việt Nam, hoặc năm về nước sau khi hết hợp đồng có cả thu nhập ở hai nơi trong cùng một năm.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.