Khi cha hoặc mẹ đang ở nước ngoài và muốn nhận con, hoặc con muốn nhận cha mẹ, thủ tục được làm tại cơ quan đại diện Việt Nam nếu người yêu cầu cư trú ở nước ngoài, hoặc tại Ủy ban nhân dân cấp xã ở Việt Nam theo Luật Hộ tịch 2014. Điều kiện cốt lõi là các bên còn sống, không có tranh chấp, và có chứng cứ về quan hệ huyết thống, thường là kết quả giám định.
Nếu có tranh chấp, một bên đã mất, hoặc người mẹ đang trong hôn nhân với người khác lúc sinh con, việc xác định cha mẹ con phải qua toà án. Bài này giải thích ranh giới đó, các giấy cần chuẩn bị khi hai bên ở hai nước, và những hệ quả của việc nhận con với họ tên, quốc tịch, thừa kế.
Những tình huống thường gặp ở gia đình xa xứ
Chuyện nhận cha mẹ con trong gia đình kiều dân hiếm khi là chuyện xa lạ. Một người lao động có con với người yêu ở Việt Nam trước khi sang Nhật, chưa kịp đăng ký kết hôn; một cô gái đi làm ở Đài Loan sinh con với bạn đời người địa phương, hai người không cưới; một người đàn ông định cư ở Mỹ nhiều năm, nay muốn chính thức nhận đứa con ở quê.
Ở chiều ngược lại, có người con đã trưởng thành, sống ở Việt Nam, muốn được xác nhận là con của người cha đã ra nước ngoài từ lâu, để có tên cha trên giấy khai sinh hoặc để làm thủ tục thừa kế. Những câu chuyện này mang nhiều cảm xúc, và thủ tục pháp lý chỉ là phần cuối: phần khó nhất thường là hai bên ngồi lại được với nhau.
Về giấy tờ, tất cả đều quy về một câu hỏi: quan hệ giữa hai người đã được ghi trong sổ hộ tịch chưa, và nếu chưa thì ghi bằng đường tự nguyện tại cơ quan hộ tịch hay phải nhờ toà án xác định.
Câu hỏi thứ hai là thời điểm. Nhận con khi con còn nhỏ, các bên còn liên lạc được, giấy tờ còn mới, bao giờ cũng nhẹ hơn làm khi con đã ba mươi tuổi và người cha đã yếu. Không ít trường hợp chờ đến khi người cha mất mới tính, lúc đó con chỉ còn đường toà án, với chứng cứ khó tìm hơn nhiều.
Đăng ký tại cơ quan hộ tịch hay ra toà án
Ranh giới dưới đây theo tinh thần Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Luật Hộ tịch 2014; trường hợp cụ thể cần hỏi cơ quan tiếp nhận hoặc luật sư.
| Tình huống | Đường xử lý | Ghi chú |
|---|---|---|
| Hai bên còn sống, đồng thuận, có chứng cứ huyết thống | Đăng ký nhận cha, mẹ, con tại cơ quan hộ tịch | Cơ quan đại diện hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã |
| Một bên không đồng ý, hoặc người thứ ba phản đối | Yêu cầu toà án xác định cha, mẹ, con | Có tranh chấp thì cơ quan hộ tịch không giải quyết |
| Người cha hoặc mẹ đã mất | Toà án xác định cha, mẹ, con | Thường gắn với yêu cầu thừa kế |
| Con sinh khi người mẹ đang có chồng là người khác | Phải xác định lại theo thủ tục toà án | Luật suy đoán con sinh trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng |
| Nước sở tại đã công nhận quan hệ cha con bằng quyết định có thẩm quyền | Ghi chú việc xác định cha, mẹ, con vào sổ Việt Nam | Giấy tờ phải hợp pháp hoá, dịch |
Dòng thứ tư hay bị bỏ qua. Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân, hoặc trong một khoảng thời gian luật định sau khi hôn nhân chấm dứt, được xác định là con chung của vợ chồng. Nếu thực tế cha đẻ là người khác, không thể chỉ làm tờ khai nhận con; cần một quyết định của toà án xác định người chồng không phải là cha.
Các bước khi cha ở nước ngoài, con ở Việt Nam
Đây là tình huống phổ biến nhất trong các gia đình kiều dân. Một lộ trình gọn thường gồm:
- Hai bên, gồm người cha và người mẹ đang nuôi con, thống nhất bằng lời rồi bằng văn bản về việc nhận con, họ của con, việc thăm nom và cấp dưỡng.
- Hỏi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi con cư trú, hoặc cơ quan đại diện nơi người cha sống, về danh mục hồ sơ và tổ chức giám định được chấp nhận.
- Người cha chuẩn bị hộ chiếu, giấy tờ cư trú, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nếu được yêu cầu; giấy nước ngoài đi hợp pháp hoá và dịch.
- Sắp xếp lịch lấy mẫu giám định, lý tưởng là trong chuyến về Việt Nam của người cha, để lấy mẫu và nộp hồ sơ trong cùng một đợt.
- Nộp hồ sơ, các bên có mặt ký tờ khai; nếu có câu hỏi về quan hệ hôn nhân của người mẹ, chuẩn bị giấy tờ chứng minh.
- Nhận trích lục đăng ký nhận cha con; giấy khai sinh của con được ghi bổ sung thông tin người cha.
- Nếu thoả thuận đổi họ cho con, làm tiếp thủ tục thay đổi họ; sau đó cập nhật hộ chiếu, giấy tờ học tập của con.
Nếu người cha không thể về, hỏi cơ quan đại diện nơi người cha cư trú xem họ có tiếp nhận được không và người con, người mẹ cần tham gia thế nào. Mỗi trường hợp được giải quyết theo hoàn cảnh cụ thể, nên một cuộc hỏi trước bằng văn bản tiết kiệm rất nhiều chuyến đi.
Hồ sơ đăng ký nhận cha, mẹ, con
Bộ giấy cụ thể do nơi tiếp nhận hướng dẫn, nhưng thường có:
- Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con theo mẫu.
- Giấy tờ tuỳ thân của người nhận và người được nhận; với con chưa thành niên, giấy tờ của người mẹ hoặc cha đang trực tiếp nuôi.
- Giấy khai sinh của người con, hoặc trích lục ghi chú khai sinh nếu con sinh ở nước ngoài.
- Chứng cứ về quan hệ cha, mẹ, con: văn bản giám định huyết thống của tổ chức có thẩm quyền, hoặc giấy tờ, chứng cứ khác theo hướng dẫn của nơi tiếp nhận.
- Giấy tờ chứng minh nơi cư trú để xác định thẩm quyền; với bên là người nước ngoài thì hộ chiếu và giấy tờ cư trú.
- Bản dịch có chứng thực và hợp pháp hoá lãnh sự cho giấy tờ do nước ngoài cấp, trừ trường hợp được miễn.
Nhận cha, mẹ, con là việc gắn với ý chí cá nhân nên các bên thường phải có mặt khi đăng ký, không ủy quyền được như các việc hộ tịch khác. Khi một bên ở nước ngoài, hãy hỏi trước nơi nào thuận cho cả hai, có thể là cơ quan đại diện nếu cả hai cùng sang được, hoặc chọn thời điểm người ở xa về Việt Nam.
Giám định huyết thống khi hai người ở hai nước
Giám định là chứng cứ phổ biến và thuyết phục nhất. Khó khăn thực tế là mẫu của hai người ở hai quốc gia. Có ba cách hay gặp: người ở xa về Việt Nam và cả hai cùng lấy mẫu tại một tổ chức giám định; người con sang nước kia; hoặc mỗi người lấy mẫu ở nước mình theo quy trình có kiểm soát nhân thân của tổ chức giám định, rồi mẫu được chuyển về một phòng xét nghiệm.
Điều quan trọng không phải là xét nghiệm ở đâu mà là quy trình lấy mẫu có chứng minh được mẫu đúng của người đó không. Kết quả từ bộ thử tự lấy mẫu tại nhà, không có người chứng kiến xác nhận nhân thân, thường không được cơ quan nhà nước chấp nhận làm chứng cứ hộ tịch. Trước khi làm, hỏi nơi tiếp nhận hồ sơ họ chấp nhận kết quả của tổ chức nào, ở nước nào.
Kết quả giám định do tổ chức ở nước ngoài cấp cũng là giấy tờ nước ngoài: cần hợp pháp hoá lãnh sự (trừ khi được miễn) và dịch. Giữ bản gốc cẩn thận, vì đó là bằng chứng quan trọng cho mọi thủ tục sau, kể cả thừa kế nhiều năm sau.
Hệ quả của việc nhận con
Giấy khai sinh được bổ sung. Sau khi đăng ký, phần thông tin người cha hoặc mẹ còn trống trên giấy khai sinh được ghi bổ sung. Con có thể được thay đổi họ theo người vừa nhận, nếu cha mẹ thoả thuận và làm thủ tục thay đổi họ.
Quyền và nghĩa vụ cha mẹ con. Quan hệ được xác lập kéo theo nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng, và quyền thăm nom, giáo dục. Người cha ở nước ngoài có nghĩa vụ cấp dưỡng với con chưa thành niên theo luật Việt Nam, dù sống ở đâu.
Thừa kế. Con được nhận là người thừa kế hàng thứ nhất của cha, mẹ theo Bộ luật Dân sự 2015, như mọi người con khác. Ngược lại, cha mẹ cũng là người thừa kế của con.
Quốc tịch. Khi quan hệ cha mẹ con với công dân Việt Nam được xác định, câu hỏi quốc tịch của con chưa thành niên có thể đặt ra theo Luật Quốc tịch 2008. Đây là thủ tục riêng; nếu cần, đọc thêm ở danh mục giữ quốc tịch Việt Nam.
Làm sao cho đứa trẻ được an toàn trong cả quá trình
Thủ tục nhận con luôn có một người không ngồi ở bàn làm việc: đứa trẻ. Với trẻ nhỏ, hãy giữ việc lấy mẫu, đi lại, gặp gỡ ở mức nhẹ nhàng nhất, giải thích bằng lời đơn giản, không để trẻ nghe người lớn tranh cãi về chuyện ai là cha.
Với trẻ lớn và thanh thiếu niên, ý kiến của con cần được lắng nghe, nhất là khi việc nhận cha kéo theo đổi họ hay chuyển nơi sống. Luật dành sự tôn trọng nhất định cho nguyện vọng của trẻ từ một độ tuổi; quan trọng hơn, đứa trẻ sẽ sống với kết quả đó cả đời.
Nếu hai người lớn không còn quan hệ tốt, cân nhắc gặp một chuyên gia hoà giải gia đình hoặc luật sư trước khi nộp hồ sơ. Một thoả thuận rõ ràng về thăm nom, cấp dưỡng, họ của con giúp thủ tục nhận con trôi chảy và tránh việc sau này phải ra toà.
Cũng nên nghĩ đến gia đình hiện tại của mỗi bên. Người cha có thể đã có vợ con ở nước ngoài; người mẹ có thể đã lập gia đình mới. Việc nhận con làm thay đổi quan hệ thừa kế và đôi khi cả đời sống của những người đó. Nói rõ với họ từ đầu, theo cách phù hợp, thường ít tổn thương hơn để họ biết qua một lá thư của văn phòng công chứng nhiều năm sau.
Câu hỏi thường gặp
Người cha là người nước ngoài có nhận con là công dân Việt Nam ở Việt Nam được không?
Được. Đây là việc nhận cha con có yếu tố nước ngoài, làm tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người con hoặc người mẹ cư trú, theo phân cấp hiện hành. Người cha cần hộ chiếu, giấy tờ cư trú và chứng cứ huyết thống; giấy tờ nước ngoài phải hợp pháp hoá và dịch.
Con đã thành niên có tự yêu cầu nhận cha được không?
Được. Người con đã thành niên có thể tự mình đứng ra yêu cầu nhận cha hoặc mẹ. Nếu người cha đồng ý và cả hai còn sống, có thể đăng ký tại cơ quan hộ tịch; nếu người cha không đồng ý hoặc đã mất, người con có quyền yêu cầu toà án xác định.
Kết quả giám định ở nước ngoài có được chấp nhận ở Việt Nam không?
Thường được xem xét nếu do tổ chức có thẩm quyền thực hiện theo quy trình kiểm soát nhân thân, kèm hợp pháp hoá lãnh sự và bản dịch. Cơ quan tiếp nhận vẫn có quyền yêu cầu giám định lại khi nghi ngờ. Nên hỏi trước khi chọn nơi xét nghiệm.
Nhận con rồi có phải đổi họ cho con không?
Không bắt buộc. Việc nhận cha chỉ bổ sung thông tin người cha. Đổi họ của con theo họ người cha là một thủ tục thay đổi hộ tịch riêng, làm khi cha mẹ thoả thuận; với con từ đủ 9 tuổi trở lên, việc đổi tên cần có sự đồng ý của con theo Bộ luật Dân sự 2015.
Có thể nhận con khi đang ở nước ngoài mà không về Việt Nam không?
Nếu người cha cư trú ở nước ngoài, cơ quan đại diện Việt Nam nơi người cha cư trú có thể đăng ký, nhưng người con hoặc người mẹ thường cũng cần tham gia. Khi con ở Việt Nam, thực tế thường dễ hơn nếu người cha về một lần để làm cùng lúc giám định và đăng ký.
Sau khi nhận cha con ở nước sở tại, có cần làm lại ở Việt Nam không?
Không làm lại, mà ghi chú. Khi cơ quan có thẩm quyền nước sở tại đã công nhận quan hệ cha con, việc đó được ghi chú vào sổ hộ tịch Việt Nam với giấy tờ hợp pháp hoá và dịch. Sau đó trích lục khai sinh của con ở Việt Nam sẽ khớp với giấy nước sở tại.