KieuDan.comKiều Dân
Kiều dân là ai

Kiều dân là gì? Phân biệt kiều dân, kiều bào, Việt kiều và người Việt ở nước ngoài

Kiều dân là người sống ở nước ngoài mà vẫn gắn với quốc gia gốc. Phân biệt kiều dân, kiều bào, Việt kiều với cách gọi trong luật và lúc chữ dùng ảnh hưởng giấy tờ.

A Vietnamese family of three seen from behind walking through an airport arrivals hall abroad with suitcases, soft morning light, wide shot

Kiều dân là người sinh sống ở một nước không phải nước gốc của mình mà vẫn được xem là thuộc về dân tộc, quốc gia gốc ấy. Với người Việt, "kiều dân", "kiều bào" và "Việt kiều" đều chỉ người Việt sống ở nước ngoài; khác nhau chủ yếu ở sắc thái và hoàn cảnh dùng chứ không phải ở quyền lợi.

Thứ quyết định quyền lợi lại là hai khái niệm trong luật: công dân Việt Nam ở nước ngoài (người còn quốc tịch Việt Nam) và người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài (người từng có hoặc có cha ông từng có quốc tịch Việt Nam). Cả hai được gộp chung trong cụm "người Việt Nam định cư ở nước ngoài" của Luật Quốc tịch Việt Nam 2008. Một người có thể được gọi là Việt kiều ngoài chợ nhưng trên giấy tờ lại thuộc một trong hai diện rất khác nhau, và diện đó mới quyết định được cấp hộ chiếu Việt Nam, được mua nhà, được đăng ký thường trú ra sao.

Bốn chữ hay gặp và nghĩa của từng chữ

Các chữ này đều gốc Hán Việt, xoay quanh chữ "kiều" nghĩa là sống tạm ở nơi khác, ở đất khách. Ghép với chữ nào thì sắc thái đổi theo chữ đó.

Cách gọiNghĩa gốcThường dùng ở đâu
Kiều dânDân của một nước sống ở nước khácVăn bản, sách báo; dùng được cho mọi dân tộc, cả người nước ngoài sống ở Việt Nam thời trước
Kiều bàoĐồng bào đang ở nước ngoài, chữ "bào" là cùng bọc, cùng giống nòiDiễn văn, báo chí trong nước, các chương trình gặp mặt dịp Tết; mang sắc thái thân tình
Việt kiềuNgười Việt sống ở nước ngoài, cùng khuôn với Hoa kiều, Nhật kiềuLời nói hằng ngày ở Việt Nam: "Việt kiều Mỹ", "Việt kiều Úc", "nhà có Việt kiều về"
Người Việt Nam ở nước ngoàiCách gọi trung tính, mô tảVăn bản pháp luật, cơ quan nhà nước, nghiên cứu; tách tiếp thành công dân và người gốc Việt

Ngoài ra còn "người gốc Việt" hay được chính người ở nước ngoài dùng để tự giới thiệu, nhất là thế hệ sinh ra ở đó: họ mang quốc tịch nước sở tại, nói tiếng Việt chưa chắc giỏi, nhưng vẫn nhận nguồn cội Việt. Chữ nào cũng không sai; chỉ nên tránh dùng "Việt kiều" khi điền tờ khai hay hỏi thủ tục, vì cán bộ sẽ hỏi lại câu quan trọng hơn: anh chị còn quốc tịch Việt Nam không.

Kiều bào và Việt kiều khác nhau thế nào trong đời thường

Về nghĩa, hai chữ gần như trùng nhau: cùng chỉ người Việt đang sống ở nước ngoài. Khác biệt nằm ở giọng. "Kiều bào" là chữ của văn viết và lời phát biểu, nhấn vào tình đồng bào, nên thường thấy trong các bài báo về chương trình đón người Việt ở xa về ăn Tết hay các cuộc gặp mặt do cơ quan nhà nước tổ chức. Ít ai ngoài chợ nói "nhà bà Tư có kiều bào về"; người ta nói "có Việt kiều về".

"Việt kiều" là chữ của đời sống, thường gắn thêm tên nước: Việt kiều Mỹ, Việt kiều Pháp, Việt kiều Đức, Việt kiều Nhật. Chữ này đôi khi kèm một chút trêu đùa, chẳng hạn khi người trong nhà nói đứa cháu đi du học vài năm về "nói chuyện như Việt kiều". Một số người sống lâu năm ở nước ngoài thích được gọi là người Việt ở Mỹ, ở Úc hơn, vì thấy chữ "kiều" có ý tạm bợ trong khi họ đã lập nghiệp mấy chục năm.

Với "kiều dân", sắc thái trung tính và rộng hơn: chữ này áp được cho mọi dân tộc. Sách sử viết về kiều dân Pháp, kiều dân Hoa ở Sài Gòn xưa; báo quốc tế nói kiều dân Ấn Độ ở vùng Vịnh. Khi nói về người Việt, "kiều dân" xuất hiện chủ yếu trong văn bản nghiên cứu, ít khi trong lời nói.

Cách luật Việt Nam gọi: hai nhóm trong một cụm từ

Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 (sửa đổi 2014 và các lần sau) không dùng chữ "Việt kiều" hay "kiều bào". Luật dùng ba khái niệm lồng nhau. Công dân Việt Nam ở nước ngoài là người có quốc tịch Việt Nam đang cư trú, sinh sống ở nước ngoài, dù đi làm ba năm hay ở đó cả đời. Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch được xác định theo huyết thống, cùng con cháu của họ, đang sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là cụm bao trùm, gồm công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.

Điểm then chốt là chữ "định cư" và "lâu dài". Một sinh viên đi học hai năm vẫn là công dân Việt Nam ở nước ngoài nhưng chưa hẳn là người định cư; một người đã nhập quốc tịch Canada từ lâu mà chưa từng làm thủ tục thôi quốc tịch Việt Nam có thể vẫn là công dân Việt Nam theo luật Việt Nam. Hai trường hợp nghe như nhau trong lời gọi "Việt kiều", nhưng giấy tờ mỗi người cần lại khác.

Hiến pháp 2013 cũng nhắc tới nhóm này theo hai ý: công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước bảo hộ, và người Việt Nam định cư ở nước ngoài là một bộ phận của cộng đồng dân tộc, được khuyến khích giữ bản sắc văn hoá, giữ gắn bó với gia đình và quê hương. Các luật chuyên ngành như nhà ở, đất đai, cư trú, xuất nhập cảnh đều dựa vào cách chia này để định quyền.

Người Việt ở nước ngoài hôm nay gồm những ai

Người định cư lâu năm. Nhóm đông nhất ở Mỹ, Úc, Canada, Pháp, Đức. Nhiều người đã có quốc tịch nước sở tại, con cháu sinh ra và lớn lên ở đó. Họ lập nghiệp từ nửa sau thế kỷ 20, làm đủ nghề từ tiệm làm móng, nhà hàng, tiệm tạp hoá đến kỹ sư, bác sĩ, giáo viên.

Người lao động theo hợp đồng. Đi làm ở Nhật, Hàn, Đài Loan, Trung Đông và ngày càng nhiều ở châu Âu. Họ còn quốc tịch, cầm hộ chiếu Việt Nam, có thời hạn hợp đồng và phần lớn dự định về nước, dù không ít người chuyển sang diện ở lại lâu.

Du học sinh. Học ở Úc, Mỹ, Nhật, Hàn, Canada, Anh, châu Âu. Họ là công dân Việt Nam đang ở nước ngoài theo thị thực học tập; một phần sau tốt nghiệp ở lại làm việc và dần thành người định cư.

Cô dâu, chú rể Việt. Kết hôn với người nước sở tại, nhiều nhất ở Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật, Trung Quốc và các nước phương Tây. Họ thường giữ quốc tịch Việt Nam nhiều năm, con mang quốc tịch của cha hoặc mẹ tuỳ luật từng nước.

Thế hệ thứ hai, thứ ba. Sinh ra ở nước ngoài, học trường bản xứ, tiếng mẹ đẻ thực tế là tiếng nước sở tại. Theo luật Việt Nam, nhiều người trong số này là người gốc Việt; có người vẫn được xác định có quốc tịch Việt Nam nếu cha mẹ đã làm thủ tục cho con.

Người làm việc ngắn hạn, đi theo gia đình. Chuyên gia được cử đi, nhân viên cơ quan, người đi theo vợ hoặc chồng công tác. Họ ở vài năm rồi về, ít khi tự coi mình là "Việt kiều" nhưng vẫn là công dân Việt Nam ở nước ngoài và cần đúng các thủ tục như mọi người.

Vì sao cách gọi quan trọng khi làm giấy tờ

Khi đi làm thủ tục ở Việt Nam hay ở cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, câu hỏi đầu tiên gần như luôn là: còn quốc tịch Việt Nam không, và giấy tờ nào chứng minh. Người còn quốc tịch thì dùng hộ chiếu Việt Nam để nhập cảnh, được đăng ký thường trú khi về, có quyền về nhà đất như người trong nước. Người gốc Việt không còn quốc tịch thì nhập cảnh bằng hộ chiếu nước ngoài, có thể xin giấy miễn thị thực, và quyền mua nhà, nhận đất bị giới hạn hơn theo Luật Nhà ở 2023 và Luật Đất đai 2024.

Một chỗ hay vướng: người đã nhập quốc tịch nước khác thường đinh ninh mình đã mất quốc tịch Việt Nam, trong khi luật Việt Nam không tự động tước quốc tịch khi ai đó nhập quốc tịch nước khác. Ngược lại, có người tin mình vẫn là công dân nhưng không còn giữ được giấy tờ nào để chứng minh. Trước một việc lớn như nhận thừa kế, mua nhà hay về ở hẳn, nên xác định rõ mình thuộc diện nào bằng giấy tờ, thay vì dựa vào cách người khác gọi mình.

Ba hiểu lầm hay gặp quanh các cách gọi

"Đã là Việt kiều thì không còn là công dân Việt Nam". Sai trong rất nhiều trường hợp. Người lao động, du học sinh, cô dâu Việt mới sang đều là Việt kiều theo cách gọi ngoài đời nhưng vẫn là công dân Việt Nam đầy đủ. Ngay cả người đã nhập quốc tịch nước khác cũng có thể chưa mất quốc tịch Việt Nam theo luật Việt Nam.

"Kiều bào là chữ dành riêng cho người đi từ lâu". Không có quy định nào như vậy. Báo chí dùng "kiều bào" cho cả người mới sang làm việc vài năm lẫn gia đình đã ở nước ngoài ba thế hệ. Chữ này nói về tình đồng bào, không đo thời gian xa quê.

"Người gốc Việt là người lai". Gốc Việt chỉ nguồn cội, không nói về pha trộn. Một người có cả cha và mẹ là người Việt nhưng sinh ra, mang quốc tịch Úc vẫn được gọi là người gốc Việt; một người lai mà cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam lại có thể là công dân Việt Nam nếu được đăng ký quốc tịch từ nhỏ.

Quyền và nghĩa vụ nói ngắn gọn

Là công dân Việt Nam đang ở nước ngoài, một người vẫn mang đủ tư cách công dân: được cơ quan đại diện Việt Nam bảo hộ khi gặp nạn, được cấp đổi hộ chiếu, đăng ký khai sinh, kết hôn cho mình và gia đình, được tự do trở về nước theo Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam 2019. Đi kèm là nghĩa vụ tuân thủ pháp luật Việt Nam ở những việc có liên quan và tuân thủ pháp luật nước sở tại, nơi mình đang sống.

Người gốc Việt không còn quốc tịch thì không có tư cách công dân, nhưng luật Việt Nam vẫn dành cho họ một số ưu đãi: thủ tục nhập cảnh thuận hơn, được mua và sở hữu nhà ở trong những điều kiện nhất định, được xin trở lại quốc tịch theo thủ tục riêng. Các bài khác của Kiều Dân đi sâu từng mảng: giấy tờ làm từ xa, hộ tịch gia đình, giữ quốc tịch, nhà đất ở quê, tiền bạc và thuế hai nước, người lao động và du học sinh, giữ tiếng Việt cho con, và chuẩn bị khi về nước sống lâu dài.

Câu hỏi thường gặp

Người đã nhập quốc tịch Mỹ còn được gọi là Việt kiều không?

Trong đời thường vẫn được gọi như vậy, vì chữ Việt kiều chỉ nói về nguồn gốc và nơi sống. Về pháp lý, người đó có thể vẫn còn quốc tịch Việt Nam nếu chưa từng được cho thôi quốc tịch, hoặc là người gốc Việt nếu đã thôi. Cần giấy tờ cụ thể để xác định.

Kiều dân có phải là cách gọi không lịch sự?

Không. Kiều dân là chữ trung tính, dùng trong văn bản và sách nghiên cứu, áp cho người của mọi dân tộc sống ở nước ngoài. Chữ này ít gặp trong lời nói hằng ngày, nên nghe có vẻ trang trọng hoặc lạ tai, chứ không mang ý coi thường.

Du học sinh đang ở nước ngoài có được tính là người Việt Nam định cư ở nước ngoài không?

Du học sinh là công dân Việt Nam ở nước ngoài. Còn chữ định cư nhấn vào việc sinh sống lâu dài, nên một sinh viên học vài năm rồi về thường không được xem là định cư. Khi đã có thường trú hay ở lại làm việc lâu năm thì cách xếp có thể khác.

Con sinh ở nước ngoài, cha mẹ đều là người Việt, thì con là kiều bào hay người nước ngoài?

Trong cách gọi thân tình, con vẫn là kiều bào, là người Việt. Về pháp lý, con có quốc tịch Việt Nam hay không tuỳ cha mẹ có đăng ký khai sinh và xác định quốc tịch cho con tại cơ quan đại diện Việt Nam hoặc khi về nước, và tuỳ quốc tịch con đang mang theo luật nước sinh.

Cụm người Việt hải ngoại có nghĩa khác người Việt ở nước ngoài không?

Về nghĩa đen, hải ngoại là ngoài biển, tức là ở nước ngoài, nên hai cụm cùng chỉ một nhóm người. Cụm hải ngoại thường xuất hiện trong báo, sách, nhạc do chính người Việt ở nước ngoài làm ra. Văn bản pháp luật Việt Nam không dùng cụm này.

Muốn biết mình còn quốc tịch Việt Nam không thì hỏi ở đâu?

Người ở nước ngoài có thể hỏi và làm thủ tục xác nhận có quốc tịch Việt Nam tại cơ quan đại diện Việt Nam nơi mình cư trú, tức đại sứ quán hoặc tổng lãnh sự quán. Người đang ở trong nước thì hỏi Sở Tư pháp nơi cư trú. Nên mang theo mọi giấy tờ cũ còn giữ được.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.