Con số được cơ quan Việt Nam dẫn nhiều nhất trong những năm gần đây là khoảng 6 triệu người Việt Nam sinh sống ở hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, theo các thông tin Bộ Ngoại giao công bố quanh năm 2023–2024. Đây là con số ước tính gộp, không phải kết quả của một cuộc đếm đầu người.
Mỗi nước có cách đếm riêng: có nước hỏi nơi sinh, có nước hỏi tổ tiên, có nước chỉ đếm người mang hộ chiếu Việt Nam đang cư trú. Vì thế cùng một cộng đồng có thể hiện ra với hai, ba con số khác nhau, và ai đọc số liệu cũng nên hỏi trước: con số này đếm ai, năm nào, ai công bố.
Con số 6 triệu được ghép từ đâu
Không có cơ quan nào đi đếm từng người Việt trên khắp thế giới. Con số chung được ghép từ ba nguồn: số liệu điều tra dân số và thống kê cư trú của các nước sở tại, báo cáo của các cơ quan đại diện Việt Nam về cộng đồng nơi mình phụ trách, và ước tính của các nhà nghiên cứu cho những nơi không có thống kê theo nguồn gốc. Mỗi nguồn có độ tin khác nhau, và chúng được cập nhật vào những năm khác nhau.
Vì vậy con số tổng chỉ nên đọc như một chỉ dấu về quy mô: cộng đồng người Việt ở nước ngoài vào cỡ vài triệu người, tập trung nhiều nhất ở Bắc Mỹ, rồi tới Đông Á, châu Âu và châu Đại Dương. Con số ấy đổi nhanh trong vài năm gần đây vì làn sóng người lao động và du học sinh sang Nhật, Hàn, Đài Loan và châu Âu, trong khi các cộng đồng định cư lâu năm tăng chậm hơn, chủ yếu qua thế hệ sinh ra ở nước sở tại.
Một điểm nữa ít người để ý: con số tổng được công bố trong những dịp khác nhau, có khi làm tròn lên cho dễ nhớ, có khi giữ nguyên qua nhiều năm dù thực tế đã đổi. Khi thấy hai bài báo cách nhau năm năm cùng ghi một con số, rất có thể đó là cùng một ước tính được nhắc lại, không phải hai lần đếm cho cùng kết quả.
Một số con số đã công bố, kèm cách đếm
Bảng dưới là các mốc làm tròn, lấy theo nguồn chính thức của nước sở tại ở những năm gần đây. Mỗi dòng đếm một thứ khác nhau, nên không nên cộng chúng với nhau.
| Nơi | Khoảng bao nhiêu | Đếm theo tiêu chí nào |
|---|---|---|
| Mỹ | Khoảng trên dưới 2,2 triệu người, các đợt khảo sát cộng đồng đầu thập niên 2020 | Người tự khai thuộc nhóm gốc Việt, một mình hoặc kết hợp với nhóm khác |
| Úc | Khoảng hơn 250 nghìn người sinh ở Việt Nam, điều tra dân số 2021; số khai tổ tiên Việt cao hơn | Nơi sinh, tổ tiên tự khai, tiếng nói ở nhà là ba câu hỏi riêng |
| Canada | Khoảng hơn 250 nghìn người khai nguồn gốc Việt, điều tra dân số 2021 | Nguồn gốc dân tộc hoặc văn hoá tự khai |
| Nhật Bản | Vượt nửa triệu người từ đầu thập niên 2020, theo thống kê cư dân nước ngoài | Người mang quốc tịch Việt Nam đang cư trú; không đếm người đã nhập tịch Nhật |
| Pháp | Chỉ có ước tính, thường dẫn vài trăm nghìn người | Pháp không thống kê theo nguồn gốc dân tộc, chỉ đếm nơi sinh và quốc tịch |
Hai dòng Mỹ và Nhật cho thấy rõ sự khác nhau. Ở Mỹ, đa số người được đếm đã là công dân Mỹ, nhiều người sinh ra ở Mỹ. Ở Nhật, gần như toàn bộ là công dân Việt Nam đang ở đó có thời hạn: thực tập sinh, người lao động kỹ năng, du học sinh, cùng một số ít gia đình đã định cư.
Bốn cách đếm cho bốn kết quả khác nhau
Đếm theo nơi sinh. Hỏi "anh chị sinh ở đâu". Cách này bắt được thế hệ thứ nhất nhưng bỏ sót toàn bộ con cháu sinh ở nước sở tại. Người Việt sinh ở nước thứ ba, chẳng hạn sinh ở Đức rồi chuyển sang Canada, cũng không được tính là người Việt.
Đếm theo tổ tiên hoặc nguồn gốc tự khai. Hỏi "tổ tiên anh chị là người gì". Cách này bắt được nhiều thế hệ, nhưng phụ thuộc vào việc người trả lời có muốn khai không. Con lai có thể khai một hay hai nguồn gốc, nên tổng số thay đổi theo cách cơ quan thống kê cộng gộp.
Đếm theo quốc tịch. Chỉ đếm người đang mang hộ chiếu Việt Nam. Rất chính xác với người mới sang, nhưng một người nhập tịch nước sở tại là biến mất khỏi bảng, dù họ vẫn sống đúng ở chỗ cũ.
Đếm theo ngôn ngữ dùng ở nhà. Hỏi "ở nhà nói tiếng gì". Đây là chỉ báo tốt về việc giữ tiếng Việt, nhưng đếm thiếu những gia đình thế hệ hai, ba đã chuyển hẳn sang tiếng nước sở tại.
Ví dụ giả định: một gia đình được đếm mấy lần
Ví dụ giả định: chị Thu sinh ở Cần Thơ, sang Đức làm điều dưỡng, sau đó kết hôn và chuyển sang Canada sống cùng chồng là người Canada gốc Việt sinh ở Montreal. Hai người có một con gái. Trong thống kê cư trú của Đức, chị Thu từng là một người mang quốc tịch Việt Nam. Khi sang Canada, chị biến khỏi bảng của Đức, và trong điều tra dân số Canada, chị được đếm là người sinh ở Việt Nam và người khai nguồn gốc Việt.
Chồng chị sinh ở Canada, nên không nằm trong cột "sinh ở Việt Nam", nhưng có trong cột nguồn gốc Việt nếu anh khai. Con gái hai người được đếm vào nhóm nguồn gốc Việt nếu cha mẹ khai thay cho con; nếu gia đình chỉ khai "người Canada" thì cháu không xuất hiện ở đâu cả. Trong khi đó, ở phía Việt Nam, chị Thu vẫn là công dân nếu chưa thôi quốc tịch, và cả gia đình được tính vào con số ước tính chung của cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Chỉ một gia đình ba người mà đã đi qua ba hệ thống đếm khác nhau. Nhân lên hàng triệu người, sự chênh lệch giữa các con số không còn khó hiểu.
Những người thường không nằm trong con số nào
Có những nhóm rơi khỏi mọi bảng thống kê. Người ở quá hạn thị thực hoặc làm việc không giấy tờ thường né các cuộc khảo sát chính thức, nên cộng đồng thực tế ở một số nước châu Âu và Đông Á có thể lớn hơn số liệu. Người đi lại liên tục giữa hai nước, chẳng hạn ở Việt Nam nửa năm, ở nước ngoài nửa năm, có thể được đếm ở cả hai nơi hoặc không được đếm ở nơi nào, tuỳ thời điểm điều tra.
Một nhóm khác là người gốc Việt ở thế hệ thứ ba, thứ tư, nhất là con lai. Khi được hỏi nguồn gốc, nhiều người chỉ khai quốc tịch hiện tại. Ngược lại, có những cộng đồng người Việt sống lâu đời ở các nước láng giềng như Lào, Campuchia, Thái Lan mà thống kê nước sở tại xếp theo nhóm dân tộc riêng hoặc không tách ra, nên con số chênh nhau rất nhiều giữa các nguồn.
Cuối cùng là người đăng ký công dân với cơ quan đại diện Việt Nam. Về nguyên tắc, công dân Việt Nam ở nước ngoài nên đăng ký để được liên lạc khi cần bảo hộ, nhưng tỷ lệ người làm việc này không cao, nên số đăng ký luôn thấp hơn thực tế. Khi có thiên tai, chiến sự hay dịch bệnh ở nước sở tại, khoảng trống này hiện ra rõ nhất: cơ quan đại diện phải tìm người qua hội đồng hương, qua chùa, qua nhóm trên mạng thay vì qua danh sách có sẵn.
Cộng đồng đổi hình dạng thế nào trong hai thập niên gần đây
Nếu nhìn nửa sau thế kỷ 20, người Việt ở nước ngoài tập trung ở Bắc Mỹ, Úc, Pháp, và ở một số nước Đông Âu nơi nhiều người sang học tập, lao động rồi ở lại. Từ những năm 2010, bản đồ thay đổi: Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan trở thành nơi có số người Việt tăng nhanh nhất, chủ yếu là người trẻ đi làm và đi học. Ở Nhật, người Việt đã thuộc nhóm cư dân nước ngoài đông nhất chỉ trong khoảng mười năm.
Thay đổi này kéo theo khác biệt lớn về nhu cầu. Cộng đồng định cư lâu năm cần những chuyện như thừa kế nhà đất ở quê, giữ tiếng Việt cho cháu, giấy tờ cho cha mẹ già về sống. Cộng đồng trẻ ở Đông Á cần hiểu hợp đồng lao động, quyền khi gặp nạn, cách giữ an toàn trước lừa đảo, và cả câu hỏi có nên ở lại lâu hay không. Cùng gọi là kiều bào, nhưng hai nhóm này sống hai đời sống rất khác nhau.
Ở châu Âu, bức tranh còn nhiều lớp hơn. Ở Séc, Ba Lan, Đức có những gia đình đã sống ba bốn mươi năm, con cháu học đại học bản xứ; Séc đã công nhận người Việt là một dân tộc thiểu số từ năm 2013. Cùng lúc đó, người lao động mới tới Romania, Hungary, Slovakia theo hợp đồng ngắn hạn, sống ở những thị trấn công nghiệp chưa từng có chợ Việt nào. Hai lớp người này gặp nhau ở chợ, ở chùa, ở các lớp tiếng nhưng nhu cầu giấy tờ và câu hỏi về tương lai rất khác nhau.
Cách đọc một con số về người Việt ở nước ngoài cho đúng
Khi gặp một con số trên báo hay mạng xã hội, ví dụ "người Việt ở nước X đã lên tới Y người", nên kiểm qua mấy bước sau trước khi tin hay dùng lại:
- Hỏi nguồn: cơ quan thống kê của nước sở tại, cơ quan Việt Nam, hay một bài viết không rõ người viết.
- Hỏi năm: số liệu điều tra dân số thường cách nhau năm năm hoặc mười năm, số liệu cư trú có thể cập nhật mỗi năm.
- Hỏi tiêu chí: đếm theo nơi sinh, tổ tiên, quốc tịch hay ngôn ngữ, và có tính con lai, tính thế hệ sinh ở nước sở tại không.
- Hỏi phạm vi: cả nước hay một bang, một thành phố; người cư trú dài hạn hay gồm cả người lưu trú ngắn.
- So với một nguồn thứ hai: nếu chênh nhau gấp đôi, khả năng cao là hai nguồn đếm hai thứ khác nhau chứ chưa chắc có nguồn sai.
Đọc số liệu kỹ như vậy không chỉ là chuyện học thuật. Một gia đình đang tính cho con sang học hay sang làm việc ở một nơi có thể dựa vào quy mô cộng đồng để đoán có chợ Việt, có lớp tiếng Việt, có chỗ hỏi han khi cần hay không, và con số sai sẽ dẫn tới kỳ vọng sai.
Câu hỏi thường gặp
Nước nào có nhiều người Việt sinh sống nhất?
Theo các số liệu chính thức hiện có, Mỹ là nơi có cộng đồng người gốc Việt đông nhất, khoảng trên dưới hai triệu người tự khai gốc Việt trong các đợt khảo sát đầu thập niên 2020. Tiếp theo là một nhóm nước gồm Nhật Bản, Úc, Canada, Pháp, Hàn Quốc, Đài Loan, Đức, với thứ tự thay đổi tuỳ cách đếm.
Vì sao số người Việt ở Nhật tăng nhanh như vậy?
Chủ yếu vì người trẻ sang theo các chương trình thực tập kỹ năng, lao động kỹ năng và du học trong khoảng mười năm gần đây. Thống kê của Nhật đếm theo quốc tịch, nên mọi người mang hộ chiếu Việt Nam đang cư trú đều được tính, khác cách đếm theo nguồn gốc ở Mỹ hay Úc.
Con số trên trang của cơ quan đại diện có chính xác hơn không?
Con số đó phản ánh hiểu biết của cơ quan đại diện về cộng đồng nơi mình phụ trách, thường dựa vào số liệu nước sở tại và thông tin từ cộng đồng. Nó hữu ích để biết quy mô, nhưng không phải kết quả đếm đầu người, và số công dân đăng ký với cơ quan đại diện thường thấp hơn thực tế.
Người gốc Việt thế hệ thứ ba có được tính vào cộng đồng người Việt ở nước ngoài không?
Tuỳ cách đếm. Điều tra theo tổ tiên tự khai có thể tính họ nếu họ khai nguồn gốc Việt. Điều tra theo nơi sinh hay quốc tịch thì không. Con số ước tính chung khoảng 6 triệu của phía Việt Nam được hiểu là gồm cả người gốc Việt các thế hệ sau.
Có nên dùng con số trên mạng xã hội để quyết định nơi sang làm việc không?
Không nên dựa vào con số không rõ nguồn. Nên đối chiếu với thống kê chính thức của nước sở tại và thông tin trên trang của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước đó. Quy mô cộng đồng chỉ là một yếu tố; điều kiện hợp đồng, nơi ở, chi phí sống quan trọng hơn nhiều.