Theo Luật Quốc tịch Việt Nam 2008, "người Việt Nam định cư ở nước ngoài" gồm hai nhóm: công dân Việt Nam (còn quốc tịch Việt Nam) và người gốc Việt Nam (từng có quốc tịch Việt Nam theo huyết thống, hoặc là con cháu của người như vậy) đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.
Ranh giới giữa hai nhóm là quốc tịch, không phải năm ra đi, nơi sống hay tiếng mẹ đẻ. Ranh giới ấy quyết định người đó dùng hộ chiếu nào khi về, có được đăng ký thường trú không, có những quyền gì về nhà đất. Bài này đọc từng thành tố của định nghĩa, đặt cạnh các ví dụ giả định để thấy một gia đình ở nước ngoài có thể có người thuộc nhóm này, người thuộc nhóm kia.
Ba khái niệm lồng nhau trong luật
Công dân Việt Nam ở nước ngoài. Người có quốc tịch Việt Nam đang cư trú, sinh sống ở nước ngoài. Khái niệm này không đòi "lâu dài": người lao động ba năm, sinh viên bốn năm, người đã ở ba mươi năm mà chưa thôi quốc tịch đều thuộc nhóm này.
Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài. Người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống, và con, cháu của họ, đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Đây là nhóm không còn quốc tịch Việt Nam nhưng còn gốc.
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Cụm bao trùm, gồm công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Khi một văn bản nói "người Việt Nam định cư ở nước ngoài được…", phải đọc tiếp xem quy định áp cho cả hai nhóm hay chỉ một nhóm.
Đọc kỹ chữ "huyết thống" và chữ "con, cháu"
Quốc tịch Việt Nam chủ yếu được xác định theo huyết thống: con sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam theo những điều kiện luật đặt ra, bất kể sinh ở đâu. Vì vậy định nghĩa người gốc Việt bám vào chữ "khi sinh ra quốc tịch được xác định theo nguyên tắc huyết thống". Người từng có quốc tịch Việt Nam chỉ vì sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ, hay người được nhập quốc tịch Việt Nam rồi sau đó thôi, không rơi vào định nghĩa gốc này theo cách đọc chặt.
Phần "con, cháu của họ" mở rộng nhóm người gốc Việt sang thế hệ sau. Một cô gái sinh ở Melbourne, mang quốc tịch Úc, có ông bà từng có quốc tịch Việt Nam, được xem là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, dù cô chưa từng cầm giấy tờ Việt Nam nào. Điều đó cho phép cô xin những giấy tờ dành cho người gốc Việt, như giấy miễn thị thực, nếu chứng minh được nguồn gốc. Chứng minh bằng gì là chuyện thực tế: giấy khai sinh của cha mẹ, hộ chiếu Việt Nam cũ của ông bà, giấy tờ hộ tịch có ghi quốc tịch.
Chuỗi giấy tờ này thường đứt ở đời ông bà. Nhiều gia đình sang nước ngoài mang theo rất ít giấy tờ, có khi chỉ còn bản sao chụp mờ hoặc giấy tờ được dịch lại ở nước sở tại với tên viết không dấu, sai thứ tự họ tên. Khi đối chiếu, cơ quan sẽ xem tên, ngày sinh, nơi sinh có khớp giữa các thế hệ không, nên việc thống nhất cách viết tên ngay từ bây giờ, khi các cụ còn khoẻ để xác nhận, giúp con cháu rất nhiều về sau.
Ví dụ giả định: một gia đình, ba diện khác nhau
Ví dụ giả định dưới đây cho thấy cùng một mái nhà ở nước ngoài có thể có người thuộc những diện khác nhau trước luật Việt Nam.
| Thành viên | Hoàn cảnh | Diện theo luật Việt Nam |
|---|---|---|
| Ông Bình, 70 tuổi | Sang Pháp từ thập niên 1980, nhập quốc tịch Pháp, chưa từng xin thôi quốc tịch Việt Nam, còn giữ giấy khai sinh cũ | Có thể vẫn là công dân Việt Nam; cần làm thủ tục xác nhận có quốc tịch nếu muốn dùng quyền công dân |
| Bà Lan, 68 tuổi | Đã được cho thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước khác theo yêu cầu thời đó | Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài; có thể xin trở lại quốc tịch nếu đủ điều kiện |
| Anh Minh, 40 tuổi | Sinh ở Pháp, chỉ có quốc tịch Pháp, cha mẹ chưa từng đăng ký quốc tịch Việt Nam cho anh | Người gốc Việt; muốn có quốc tịch Việt Nam phải làm thủ tục theo luật |
| Chị Hoa, 35 tuổi, vợ anh Minh | Sang theo diện kết hôn từ Việt Nam, đang cầm hộ chiếu Việt Nam còn hạn | Công dân Việt Nam ở nước ngoài |
Khi gia đình này về Việt Nam lo việc thừa kế ngôi nhà của ông bà, mỗi người sẽ đi một đường giấy tờ khác: người dùng hộ chiếu Việt Nam, người cần giấy xác nhận có quốc tịch, người chỉ có tư cách người gốc Việt. Biết trước diện của từng người tiết kiệm được nhiều chuyến đi lại.
Nhập quốc tịch nước khác không tự động làm mất quốc tịch Việt Nam
Đây là điểm bị hiểu sai nhiều nhất. Luật Quốc tịch Việt Nam đi theo nguyên tắc một quốc tịch nhưng có ngoại lệ, và quan trọng hơn, quốc tịch Việt Nam chỉ mất trong những trường hợp luật liệt kê, chẳng hạn được cho thôi quốc tịch, bị tước quốc tịch, hoặc mất theo điều ước quốc tế. Việc một người tuyên thệ nhập quốc tịch Mỹ, Úc hay Đức không phải là một trong các trường hợp ấy theo luật Việt Nam, dù luật của nước kia có thể đòi người đó từ bỏ quốc tịch cũ theo cách của họ.
Lần sửa đổi năm 2014 còn khẳng định rõ: người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch theo pháp luật Việt Nam trước khi luật năm 2008 có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Trước đó nhiều người lo vì một quy định cũ về việc đăng ký giữ quốc tịch trong thời hạn nhất định. Còn quốc tịch trên luật không đồng nghĩa có ngay giấy tờ trong tay: muốn được cấp hộ chiếu Việt Nam, người đó vẫn phải xuất trình giấy tờ chứng minh quốc tịch theo luật.
Giấy tờ nào thường dùng để chứng minh còn quốc tịch Việt Nam
Luật Quốc tịch liệt kê một số loại giấy tờ có giá trị chứng minh quốc tịch Việt Nam. Trên thực tế, người ở nước ngoài hay dựa vào những thứ sau:
- Hộ chiếu Việt Nam, kể cả hộ chiếu đã hết hạn, thường được cơ quan đại diện xem xét làm căn cứ ban đầu.
- Giấy khai sinh, nhất là khi trên đó ghi cha, mẹ là công dân Việt Nam và không kèm giấy tờ cho thấy quốc tịch khác.
- Thẻ căn cước, chứng minh nhân dân cũ; quyết định cho nhập, cho trở lại quốc tịch Việt Nam nếu có.
- Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp, là bằng chứng rõ ràng nhất cho người không còn giấy tờ nào khác.
- Giấy tờ cũ của chế độ hộ tịch trước đây, giấy tờ của cha mẹ, ông bà, dùng như tài liệu bổ trợ khi xin xác nhận.
Danh mục cụ thể và cách cơ quan đánh giá từng loại có thể thay đổi theo văn bản hướng dẫn; trước khi nộp nên hỏi trực tiếp cơ quan đại diện Việt Nam nơi cư trú hoặc Sở Tư pháp nếu đang ở trong nước.
Hai nhóm được gì khi dính tới Việt Nam: so nhanh theo nguyên lý
Bảng dưới chỉ nêu nguyên lý chung để thấy vì sao phân nhóm quan trọng; điều kiện cụ thể từng việc cần đọc luật chuyên ngành hiện hành hoặc hỏi cơ quan có thẩm quyền.
| Việc | Công dân Việt Nam ở nước ngoài | Người gốc Việt không còn quốc tịch |
|---|---|---|
| Nhập cảnh Việt Nam | Dùng hộ chiếu Việt Nam, không cần thị thực | Dùng hộ chiếu nước ngoài kèm thị thực hoặc giấy miễn thị thực dành cho người gốc Việt |
| Cư trú khi về | Đăng ký thường trú, tạm trú như công dân trong nước theo Luật Cư trú 2020 | Theo các diện cư trú dành cho người nước ngoài, có ưu đãi riêng cho người gốc Việt |
| Nhà ở, đất đai | Có quyền như công dân trong nước theo Luật Đất đai 2024 và Luật Nhà ở 2023 | Được mua, sở hữu nhà ở và nhận một số quyền về đất trong giới hạn luật cho phép, khi được nhập cảnh |
| Bảo hộ ở nước ngoài | Được cơ quan đại diện Việt Nam bảo hộ như mọi công dân | Được nước mình mang quốc tịch bảo hộ; cơ quan đại diện Việt Nam hỗ trợ trong những việc liên quan Việt Nam |
| Quốc tịch cho con | Có thể đăng ký khai sinh, xác định quốc tịch Việt Nam cho con | Con là người gốc Việt; muốn có quốc tịch Việt Nam phải làm thủ tục riêng |
Điểm đáng chú ý là cột thứ hai không đòi người đó phải từ bỏ quốc tịch nước sở tại. Một người cầm cùng lúc hộ chiếu Đức và hộ chiếu Việt Nam còn hạn vẫn hưởng quyền của công dân khi làm việc với cơ quan Việt Nam, miễn là khai đúng và dùng đúng hộ chiếu ở từng nơi.
Ngược lại, người gốc Việt không còn quốc tịch vẫn có những quyền đáng kể, nhất là về nhà ở và cư trú. Không ít người trì hoãn việc nhận thừa kế hay mua nhà vì nghĩ mình "không còn là người Việt trên giấy" mà không biết luật vẫn mở một số cửa cho họ.
Khi nào cần xác định mình thuộc nhóm nào
Phần lớn thời gian, sống ở nước ngoài không cần nghĩ tới chuyện này. Nó trở thành câu hỏi thật khi có một việc dính tới Việt Nam: cấp hộ chiếu Việt Nam cho con, về nước dài hạn, nhận thừa kế nhà đất, đứng tên mua nhà, kết hôn tại Việt Nam, hay chỉ đơn giản là chọn hộ chiếu nào để nhập cảnh cho đúng. Mỗi việc ấy hỏi một câu khác nhau: anh chị là công dân hay người gốc Việt, và có giấy tờ gì.
Cách làm an toàn là xếp giấy tờ của cả gia đình theo từng người, ghi rõ ai đang cầm hộ chiếu nào, ai còn giấy tờ Việt Nam cũ, ai đã có quyết định thôi quốc tịch. Danh sách đó vừa giúp khi đến cơ quan đại diện, vừa giúp người thân ở quê khi phải làm thủ tục thay qua ủy quyền. Các thủ tục cụ thể như xác nhận quốc tịch, trở lại quốc tịch, giấy xác nhận là người gốc Việt Nam được trình bày ở mục Giữ quốc tịch Việt Nam của Kiều Dân.
Câu hỏi thường gặp
Người gốc Việt có được coi là công dân Việt Nam không?
Không. Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài theo luật là người không còn quốc tịch Việt Nam, hoặc chưa từng có nhưng có cha ông từng có. Họ được hưởng một số ưu đãi riêng nhưng không có tư cách công dân cho tới khi được nhập hoặc trở lại quốc tịch Việt Nam.
Người lao động đi làm ở Nhật ba năm có phải người Việt Nam định cư ở nước ngoài không?
Họ là công dân Việt Nam ở nước ngoài. Chữ định cư nhấn vào việc sinh sống lâu dài, nên người đi làm theo hợp đồng có thời hạn thường không được gọi là định cư. Tuy vậy, mọi quyền và thủ tục của công dân ở nước ngoài như bảo hộ, cấp đổi hộ chiếu đều áp dụng cho họ.
Chưa từng làm đơn thôi quốc tịch thì chắc chắn còn quốc tịch Việt Nam?
Thường là vậy, nhưng chưa chắc trong mọi trường hợp, vì quốc tịch còn có thể mất theo các trường hợp khác luật liệt kê hoặc chưa từng phát sinh. Cách chắc nhất là làm thủ tục xác nhận có quốc tịch Việt Nam tại cơ quan đại diện hoặc Sở Tư pháp, kèm mọi giấy tờ cũ còn giữ.
Cháu nội sinh ở Canada, chưa từng về Việt Nam, có được tính là người gốc Việt không?
Có, nếu ông hoặc bà của cháu từng có quốc tịch Việt Nam theo huyết thống. Định nghĩa người gốc Việt bao gồm con, cháu của người như vậy. Khi làm giấy tờ, cháu cần chứng minh chuỗi quan hệ bằng giấy khai sinh của mình, của cha mẹ và giấy tờ Việt Nam của ông bà.
Văn bản ghi người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì có áp cho người gốc Việt không?
Về câu chữ, cụm này bao gồm cả công dân Việt Nam và người gốc Việt sống lâu dài ở nước ngoài. Nhưng nhiều luật chuyên ngành tách tiếp hai nhóm và cho quyền khác nhau, như Luật Nhà ở 2023 và Luật Đất đai 2024. Luôn đọc tiếp xem quy định nói đến nhóm nào.